Thích Trí Quang: Ông là ai?

29 Tháng Mười Hai 20197:00 SA(Xem: 413)

VĂN HÓA ONLINE - Ý KIẾN - THỨ HAI 30 DEC 2019


Mọi liên lạc bài vở - vui lòng gởi về Email: vaamacali@gmail.com


Thích Trí Quang: Ông là ai? Một nhà tu đạo hạnh hay một kẻ vĩ cuồng tôn giáo?


image013

Thích Trí Quang, 1964


Trí Quang là một kẻ mị dân, triệt để chống Thiên Chúa giáo, một người theo chủ nghĩa dân tộc cuồng tín và một người hoang tưởng tự đại (vĩ cuồng) với mục đich cuối cùng là thiết lập một chế độ thần quyền Phật giáo ở Việt Nam.”


1964: CIA Intelligence Information Cable & CIA Memorandum


Có thể tôi chưa từng nghe một lời nhận xét nặng nề như thế của một người nghiên cứu ngoại quốc đối với một nhân vật lãnh đạo tôn giáo hàng đầu của Việt Nam. Tuy nhiên nhận xét về Trí Quang ở trên không có gì là quá đáng mà có thể rất gần sát với sự thật. Người ta có thể không nói bởi vì không dám nói, hoặc vì e ngại đụng chạm hoặc vì không đủ tài liệu dẫn chứng.


Tôi coi ông là người sắc sảo, có sức thu hút và quyết tâm và rất nhiều ngạo mạn và cao vọng. Chính cái cao vọng vĩ cuồng này đẩy ông đi rất xa. Có người gọi ông là có óc lãnh tụ hay óc làm trùm hay còn được gọi là: giấc mơ lãnh tụ. Đúng cả. Các viên chức Mỹ cũng như đại sứ Cabot Lodge chỉ nhìn thấy ở Trí Quang là một ‘potential troublemaker’. Nhiều người khác gọi ông là một thứ ‘kingmaker’. Hình ông trên bìa báo Time số ra ngày 22-4-1966, ở góc  phụ chú, ‘The Buddhist Bid for power’ và gọi ông là “mysterious High Priest of Disorder” của Việt Nam


Vậy mà một số đông người, không biết xuất phát từ ai đều cùng nhái theo một luận điệu: “Người làm rung chuyển nước Mỹ”.  Nguyễn Hữu Thái trong một bài tựa đề “Thượng tọa Thích Trí Quang. ‘Người làm rung chuyển nước Mỹ;” (www viet-studies.net) viết bịa đặt, dựng đứng chuyện. Ca tụng như thế có khác chi chửi xéo thầy chẳng khác gì một tên khủng bố trong vụ 9-11.


Tôi còn thấy trong phòng của ông ta một bức hình của Mahatma Gandhi. Mỉa mai thay, Trí Quang không học được một góc của lòng nhân ái của bậc thánh nhân. Lại còn Nelson Mandela chống lại nạn kỳ thị chủng tộc. Và nếu không có ông thì đất nước của ông không tránh khỏi một cuộc tắm máu giữa da đen và da trắng. Cả hai, một thánh nhân, một người anh hùng đều không phải thầy tu mà họ có một tấm lòng nhân.


Nhưng tôi nhìn thấy rõ hơn ở ông Trí Quang, sau khi đọc một số tài liệu trong cuốn “Giấc  mơ lãnh tụ”, tài liệu của MarK Moyar, tài liệu của  Robert J. Topmiller và nhất là của tác giả James McAllister, một tài liệu dựa trên trực tiếp những trao đổi của ông Trí Quang với nhân viên ở tòa đại sứ Mỹ được CIA báo cáo về Bộ Ngoại giao Mỹ trong thời gian 1964-1965. Cuối cùng tài liệu không thể bỏ qua là tập sách do Hòa thượng Thích Tâm Châu viết, “Bạch thư về Vấn đề chia rẽ Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự (1994)”. Tổ Đình Từ Quang (2176 Ontario Est. Montréal, Quebec, Canada.


Thiển nghĩ bạn đọc, bất kể là ai, đều nên đọc các tài liệu kể trên để tránh bớt những tranh cãi vô ích. Rất tiếc là có một số người, ngay cả một số chức sắc Phật giáo chỉ đọc những gì họ muốn đọc.


Đọc những tài liệu ấy nó mới hiểu được con người thật của Trí Quang cũng như những mục đích và tham vọng của ông.


Viết bài này, tôi xử dụng thêm tài liệu của tờ báo Lập Trường, cơ quan tranh đấu của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Huế và chia xẻ những điều ấy với bạn đọc ngày hôm nay.


Cái cảm nghĩ của tôi khi đọc các tài liệu trên, tôi nhận ông Trí Quang là cực kỳ nguy hiểm. Nguy hiểm cho bất cứ ai không đồng quan điểm với ông – dù là ở bình diện chính trị hay nhất là tôn giáo. Thiên Chúa giáo đã đành là mục tiêu hàng đầu và trên hết của ông với nhóm đệ tử của ông ở Huế. Tiếp đến là các chính quyền ở miền Nam như Tam Đầu chế, Nguyễn Khánh,  Phan Huy Quát, Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Thiệu, nguyễn Cao Kỳ, v.v.. và cả những người đồng đạo của ông như Thích Tâm Châu, Thích Thiện Minh.


Nếu cần, ông sẵn sàng dùng bạo lực như biểu tình, tuyệt thực và biện pháp tối hậu là tự thiêu đối với các quyền lực thế tục. Nhưng đe dọa, khủng bố trắng đối với những người đồng đạo. Nó là một thứ phát xít tôn giáo.


Nguy hiểm nhất ở chỗ có thể ông đã mất một tấm lòng nhân ái. Nhiều người chỉ nhìn khuôn mặt ông ở bề ngoài đã ái ngại. Nó lộ sự tàn bào không dấu diếm được. Không thiếu những người tranh đấu cho dân tộc, cho tôn giáo, cho quyền con người mà vẫn biểu lộ một tấm lòng nhân ái như Mahatma Gandhi, mục sư Luther King.


Nhà báo người Ý Oriana Fallaci trong một cuộc phỏng vấn Trí Quang viết.


“Trí Quang, con người năm 1960 [thật ra là năm 1963. NVL] đã nhẩy như một chú dê con vào sứ quán Mỹ để khỏi bị bắt và bị giết, nay không có vẻ gì là một người sắp tự thiêu cả. Mặt ông ta tròn trĩnh tinh quái, đôi mắt gian xảo, và cái nụ cười ác thú đang che dấu một cái gì không ai biết nổi, nhưng biểu lộ một thái độ tham sống mãnh liệt. Chỉ cần quan sát ông ta trong lúc ông ta kiểm tra xem có ai theo dõi chúng tôi không, lúc ông ta khóa cẩn thận cái gian phòng chỉ có một cái giường, một bàn nhỏ, một bức ảnh Gandhi, một cái ghế, một cái bô, nhưng lại có một cái Radio loại mới nhất, một máy điều hòa nhiệt độ và một hộp sô cô la ông ta vốn ưa thích.”


Lê Minh Đức, “Cuộc sống, cuộc chiến tranh, và rồi” 9-1991, trang 105 dịch từ bản tiếng Pháp của Jacqueline Remillet, tựa đề “La vie, la guerre et puis rien”, NXB Robert Laffont – Paris; nguyên bản tiếng Ý của Oriana Fallaci, tựa đề “Niente e così, sia” (Nothing, and so be it, 1969.)


Cho nên, những ai còn đề cao ông là một nhà sư bất bạo động, trước sau chỉ là nhà chân tu, trước sau chỉ vì Đạo pháp, một người đạo đức cao trọng tiêu biểu của Phật giáo thì thật sự họ không biết xấu hổ. Phần tôi khen ai mà không đúng tôi thấy ngượng với lương tâm mình.


Nếu thật sự ông là người chân tu, đạo hạnh, theo tôi, sẽ  không có những tranh cãi như ngày hôm nay khi ông đã nhắm mắt lìa đời.


Sự gây ra tranh cãi tự nó là một điều bất thường.


Nhưng đối một vị tỳ kheo đạo hạnh như Dalai Lama, ai có can đảm dám chê trách?  Hình ảnh các nhà sư mà tôi trân trọng quý mến là hình ảnh sư cụ Chùa Long Giáng trong chuyện dài của nhà văn Khái Hưng. Ngay từ hồi còn trẻ, đọc Khái Hưng, tôi đã hình dung ra đạo Phật qua sư cụ chùa Long Giáng và nhiều nhà sư khác ở các vùng quê miền Bắc. Đẹp biết làm sao.


Hình ảnh Trí Quang và những việc làm của ông trong suốt 20 năm miền Nam đã bôi bẩn hình ảnh cao đẹp của Phật giáo đi nhiều. Điều này xem ra một số đệ tử của thầy đã không nhìn nhận ra sự phá sản tinh thần đạo Phật của ông Trí Quang. Chẳng lẽ người có học, có đầu óc, có đọc sách vở, tài liệu lại không nhìn nhận ra điều đó sao? Hãy để hình ảnh Phật lúc nào cũng là ông Bụt. Đơn giản chỉ có vậy thôi.


Ý của tôi là như vậy. Các đệ tử của thày có nên cứ tiếp tục tụng thầy nữa chăng? Phải biết xấu hổ với chính mình.


Riềng TT. Thich Tâm Châu đến cuối đời, 1993, cũng thấy cần nhìn lại công cuộc tranh đấu Phật giáo, cực chẳng đã, ông mới tiết lộ mối rứt nạn giữa Ấn Quang và Quốc Tự trong tập tài liệu nhan đề Bạch Thư về vấn đề chia rẽ của Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự. Trong đó gián tiếp cho thấy Trí Quang là người cực kỳ quá khich và nếu cần xử dụng bạo lực không khoan nhượng.


Thượng Tọa Tâm Châu là người hiểu rõ con người của Trí Quang, độc đoán và muốn thâu tóm mọi quyền lực nên mới có sự ra đi của cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền cũng như TT. Thích Tâm Châu, Việt Nam Quốc Tự  khỏi Giáo Hội Ấn Quang.


Vì thế, sự chống đối ông Trí Quang của một số người Việt hải ngoại hiện nay là phải như thế, nhưng cũng cần xét lại. Vì nhiều phần chưa hiểu được mục đích và động lực nơi ông. Phần đông hiện nay dựa trên lập trường chính trị của người quốc gia cho rằng ông hoặc là người của CIA, nhất là người của cộng sản. Cả hai quan điểm ấy rất nhiều phần chỉ đúng ở bề mặt, mà có thể nhiều phần không đúng khi đọc tập tài liệu của James McAllister nhan đề, “‘Chỉ có tôn giáo là đáng kể ở Việt Nam’: Thích Trí Quang và chiến tranh Việt Nam”, bản dịch Only religious Count in Viet Nam. Thich Trí Quang and the Vietnam war của Trần Giao Thủy đăng trên DCVOnline.net.


Điều đó cũng không có gì đáng trách, vì phần đông người Việt thiếu thông tin và và tài liệu. Theo McAllister, ngay cả những người viết sử tầm cỡ như Mark Moyar, trong cuốn “Political monks: The militant Buddhist Movement During the Vietnam War” hoặc cuốn của Robert Topmiller, “The Lotus Unleashedd: The Buddhist Power in South Vietnam, 1964-1066” đều thiếu sót trong việc chống hoặc bênh vực Trí Quang.


Vì thế James McAllister cho rằng thật là bất hạnh khi các sử gia hiện nay biết rất ít về mục tiêu và động cơ trong giai đoạn cam go của cuộc chiến tranh Việt Nam.


“Unfortunately, contemporary historians still know very little about Tri Quang goals and motivations during this crucial period of the Vietnam war.”


James McAllister, Only religious Count in Viet Nam. Thich Trí Quang and the Vietnam war.


James McAllister


Nhiệm vụ chính của bài viết này là tìm hiểu xem ông là ai nhà tu đạo hạnh hay một kẻ vĩ cuồng tôn giáo..


 Hai giai đoạn trong cuộc đời đấu tranh tôn giáo-chính trị của TT. Trí Quang

Theo tôi, ngoài vấn đề đọc tài liệu, cũng cần nghiền ngẫm kỹ càng lại bản chúc thư ngắn ngủi của ông. Ông vốn là người cao ngạo, khinh người, có nhiều cao vọng ngất trời, nhiều toan tính, nhiều âm mưu, nhiều thủ đoạn tàn bạo, nhiều hành vi ném đá dấu tay, tại sao lại muốn thầm lặng ra đi? Đó phải chăng là kết quả 44 năm nghiền ngẫm về cuộc đời dấn thân, đầy sóng gió và hào quang, thét ra lửa. Có phải chỉ vì ông muốn xóa trắng những trang sử lem luốc đời ông không? Có phải chỉ vì ông muốn từ bỏ tất cả thế sự để đi bình an về cõi vĩnh hằng? Có phải vì những tham vọng vĩ cuồng muốn làm thái thượng hoàng, một thứ vua không ngai. Cuối cùng, mục đích và những tham vọng của ông đã không đạt được?


Hiểu như thế mới hiểu được tại sao nay ông Trí Quang ngồi im một chỗ.


Câu hỏi là trước 1975 ông đã làm gì? Ông làm chính trị quậy phá. Nào ông có hăm hở gì sách vở chữ nghĩa? Muốn dịch thì trước 1975 cũng dịch được chứ? Muốn tu thì trước 1975 cứ ở trong chùa tụng kinh gõ mõ? Trước 1975, đã có biết bao nhiêu báo chí Phật giáo đã ra đời nhằm chấn hưng Phật giáo. Các tuần san như Hải Triều Âm, Thiện-Mỹ, Đuốc Tuệ, Đại Từ Bi. Rồi các nguyệt san như như Liên Hoa, Giữ thơm quê mẹ, Vạn Hạnh. Phần lớn chủ trương của các tập san này đều nhằm mục đích tôn giáo, văn học Phật giáo hơn là chính trị. Họa chăng tờ Hải Triều Âm mà ông cộng tác viết chung với Nhất Hạnh có viết những bài về chính trị.


Nếu ông có quan tâm và hỗ trợ, theo tôi chính yếu là tờ Lập Trường, cơ quan tranh đấu của Phong trào Nhân Dân cứu Quốc. Đây là chỗ dựa của ông.


Đọc Lập Trường là đọc Trí Quang. Ông là linh hồn của tờ báo. Ông đứng sau tờ báo như cái bóng phủ.


image014

Báo Lập Trường, 4-7-1964. Nguồn: Lập Trường/NVL


Những bằng chứng về sự cực đoan tôn giáo của Trí Quang dẫn đưa đến mộng làm bá chủ


Muốn hiểu rõ con người và những cao vọng của ông Trí Quang, có thể chỉ cần đưa ra một vài so sánh có tính cách dẫn đường. Giả dụ, nếu Hòa Thượng Thich Tịnh Khiết hay ông Mai Thọ Truyền hay TT Thích Tâm Châu lãnh đao Phật giáo miền Trung thì có thể có biến cố Phật giáo 1963 hay không? Hoặc giả, nếu thay vì TT. Ngô Đình Diệm, một người công giáo thay bằng ông X, Y, một người Phật giáo, liệu có thể có cái gọi là kỳ thị tôn giáo hay không? Việc ông Kỳ, tự nhận là người Phật giáo ra dẹp Phật giáo miền Trung, đưa Trí Quang về Sài gon giam lỏng, không một ai coi đó là kỳ thị tôn giáo?


Điều đó cho thấy rằng yếu tố con người ở đây là đáng kể nhất.


Giải mã con người Trí Quang là giải mã những ẩn số che đậy đằng sau các cuộc tranh đấu của ông. Những điều ông nói và những điều ông làm cần được cân bằng một nhận xét khách quan và thông minh. Trước 1963, cùng lắm ông chỉ là một cao tăng trong giới Phật giáo miền Trung. Có thể ông sống ẩn mình, ẫn nhẫn vì thời cơ chưa đến. Và để giải mã những ý đồ của ông, có thể chia ra hai giai đoạn mục tiêu tranh đấu của ông.


Mục tiêu thứ nhất: lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.


Việc lật đổ này bề ngoài mới đầu chỉ là một sự rắc rối nhỏ tưởng không có gì quan trọng, nó đã mau chóng kết tụ thành một khối bất mãn chống lại chính quyền. Việc đòi hỏi cho phát thanh lại vào lúc 8 giờ tối bài thuyết Pháp của TT Trí Quang nhân dịp lễ Phật Đản mà nội dung là chống chính phủ. Liệu ông giám đốc Đài phát thanh, ông Ngô Ganh có thể nào cho phép phát thanh một bài chống chính phủ hay không? Một cái xẩy nẩy cái ung. Ngô Ganh không dám quyết định, tỉnh trưởng cũng không. Nó mau chóng mang kich thước mội cuộc nổi dậy về chính trị lật đổ một chính quyền do một tổng thống người Thiên Chúa giáo lãnh đạo trong một đất nước tín hữu Phật giáo dông hơn. Sau vụ nổ ở Đài phát thanh, chính quyền địa phương cũng như trung ương lúng túng trong việc giải quyết. Tất cả đều bị động vì tính bất ngờ của nó và không ai dám đứng ra trách nhiệm. Ý đồ của ông Trí Quang là đã kích động đúng lúc tâm lý quần chúng đám đông Phật tử, tạo nên một làn sóng chống đối; bắt mạch được tâm lý đám đông ở đây là tuyệt vời. Vụ tấn công chùa lại thêm một vụng về làm mất chính nghĩa của chính quyền. Ông Diệm rơi vào thế cô đơn, chính quyền bị cô lập và bị động.


Thế nhưng đã không ai nhắc nhở gì đến lực lượng tranh đấu, Hội Đồng Nhân Dân cứu quốc của Trí Quang đã tấn công và thiêu rụi hai giáo xứ Thanh Bồ và Đức Lợi ở Đà Nẵng làm cho 11 người chết, 42 người bị thương và hàng ngàn người mất nhà mất cửa. (Hàn Giang Trần Lệ Tuyền. Nhớ lại cuộc thảm sát Thanh Bồ Đức Lợi, Đà Nẵng 24-8-1966.)


Những nhóm người cực đoan tôn giáo được gọi là “ lực lượng thanh niên Phật tử cứu quốc” như các vị Thích Minh Chiếu, Thích Hạnh Đạo, Thích minh Tuấn, Thích Long Trí, Thích Như Huệ, Thích Thiện Duyên và đám Phan Xuân Huy, La Thành Tỵ, Hà Xuân Kỳ, Phan Chánh Dinh, Vĩnh Kha, Vĩnh Linh, Hồ Công Lộ, Nguyễn Văn Lương, Lê Văn Tương, Nguyễn Văn Côn, Nguyễn Văn Tổng đã tham gia vào đám người hạ sát những đồng bào vô tội tại Đà Nẵng. Những nạn nhân  vô tội, chết oan uổng mà không được công lý che chở. Những kẻ giết người một cách tàn bạo nay họ ra sao? Ở đâu ?


Giới Thiên Chúa giáo sau nhiều năm trời bị bách hại trong thầm lặng. Đây là lần đầu tiên rơi vào ghế bị cáo.


Họ giữ sự bình tĩnh không tuyên bố để tránh tình trạng đổ thêm dầu vào lửa. Sau 1-11-1963, kẻ thắng người thua đã rõ ràng khi TT. Trí Quang rời khỏi tòa đại sứ Mỹ ngày 4-11. Lật ông Diệm là kế gián tiếp loại trừ ảnh hưởng công giáo trong chính quyền, đồng thời lấy lại địa vị của Phật giáo đã mất. Nó nhắc nhở lại thời kỳ Văn Thân đời Tự Đức mà TT.Trí Quang có thể là nhân chứng tại làng quê Diêm Điền của ông tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình?


Nếu tin vào bài viết của tác giả Lê Trọng Quát khi tiếp xúc với TT Trí Quang khi chia tay, ông Trí Quang nới: “Bác ơi, chế độ này cho nó sập cho rồi.” (Lê Trọng Quát, “Một lời chứng trước khi lật qua một  trang sử thảm không của dân tộc”.)


Người Mỹ và một số tướng lãnh miền Nam đã ủng hộ việc lật đổ TT. Diệm và sự việc ấy được coi như chính đáng. Tòa đại sứ Mỹ đã cho Trí Quang vào tỵ nạn chính trị mà sau này ông Trí Quang đã bày tỏ lòng tri ân của ông đối với người Mỹ.


Vấn đề không còn là đòi hỏi bình đẳng tôn giáo hay mục tiêu 5 điểm nữa. Nếu chỉ có thế thi mọi chuyện phải dừng lại ở đây vì hai ông Diệm-Nhu đã chết. Các sư sãi trở về Chùa tiếp tục việc tụng kinh gõ mõ.


Theo tài liệu của CIA gởi về Bộ Ngoại giáo Mỹ ngày 1 tháng Tư, 1964, James McAllister viết:


“Ông ta là một người bị chính trị hóa cao độ, một người nhìn hầu hết mọi sự kiện ở Việt Nam qua lăng kính của một xung đột căn bản là tôn giáo giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Trí Quang nói, “Ngay cả người Thiên Chúa giáo tốt đối với người dân cũng đã phạm lỗi hai lần.”


Trần Giao Thủy, Ibid., DCVOnline.net.


Xin giải thích ý nghĩa câu nhận xét của Trí Quang là ngay cả những người công giáo cho dù họ là người tốt đi nữa thì họ cũng phạm hai tội. Tội thứ  nhất đã là người công giáo thì theo Tây thực dân và bán nước. Tội thứ hai là đã là công giáo thì họ là thứ Cần Lao Thiên Chúa giáo.


Ghi nhận này của CIA dotác giả James McAllister tiết lộ cho thấy ông Trí Quang đã đụng chạm đến căn tính của người Thiên Chúa giáo. Đạo Thiên Chúa đã được truyền sang từ thế kỷ 16 và hơn hai thế kỷ sau, người Pháp mới có mặt ở Việt Nam. Về Cần Lao thì nhóm Cần Lao gộc là các tướng như Đỗ Mậu, Lê Văn Nghiêm, Tôn Thất Đính, v.v.


Tác giả Lữ Giang, năm 1964 đã gọi đây là một cuộc thánh chiến. Cuộc thánh chiến thứ nhất là lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Cuộc Thánh chiến thứ hai là diệt các tàn dư Cần Lao công giáo. Ông viết,


“Các dư đảng Cần Lao phải rời khỏi các chức vụ và các vị trí then chốt trong chính quyền. Dư đảng Cần Lao ở đây được hiểu là những người theo Thiên Chúa giáo và khi nói “diệt dư đảng Cần Lao” thì phải hiểu là diệt Thiên Chúa giáo và các phần tử không đồng chủ trương của nhóm Phật giáo cực đoan miền Trung.”


Lữ Giang. Những bí ẩn đằng sau các cuộc Thánh Chiến tại Việt Nam. 1994, trang 304


Ông còn nhận xét thêm về Trí Quang với một số những đặc tính như: độc đoán, muốn nắm mọi quyền hành trong tay vào Giáo Hội Phật giáo Ấn Quang. Cực đoan, muốn gắn liền Phật giáo và dân tộc. Vận mệnh đất nước đi liền với vận mệnh Phật giáo. Ông muốn tự coi mình là Quốc sư ở trên mọi tôn giáo trong đó Phật gíao chiếm lãnh hàng đầu (tóm tắt trang 129). Diệm đổ chưa phải là xong. Ông tiến hành bước thứ hai là diệt trừ dư dẩng Cần Lao Thiên chúa giáo.


Mục tiêu thứ hai: Diệt trừ hiểm họa Cần Lao Thiên Chúa giáo.


Mục tiêu thứ hai của TT Trí Quang còn quan trọng hơn mục tiêu thứ nhất. Mục tiêu thứ nhất tương đối rõ ràng là đòi lại quyền bình đẳng tôn giáo. Vì thế ít ra nó cũng được khối Phật giáo Việt Nam Quốc Tự ủng hộ và tham gia. Mục tiêu thứ hai bộc lộ một cách rõ ràng, minh bạch và dứt khoát, triệt để. Mục đích của Trí Quang là tiêu diệt Cần Lao Thiên Chúa giáo và tham vọng biến Phật Giáo thành một thứ “Quốc giáo” và ông trở thanh Quốc sư của tôn giáo ấy. Không lẽ gần một triệu người di cư đa phần là Thiên Chúa giáo trở thành kẻ thù của Trí Quang? Đó là một thái độ ngông cuồng của một kẻ tu hành cuồng tín. Tham vọng còn là đặt dư đảng Cần Lao ra ngoài vòng Pháp luật!


Trong việc diệt trừ Thiên Chúa giáo, theo tác giả James McAllister, chính quyền Mỹ Jonhson cho rằng sau vụ lật đổ ông Diệm cần một tình thế ổn định và chính phủ miền Nam Việt Nam không cần đến một sự cải tiến hoặc thanh lọc các nhân viên chính phủ cũ. Nhưng Trí Quang không bao giờ chấp nhận cái ý tưởng sự đàn áp tôn giáo do chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo đã được giải quyết xong sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm đã sụp đổ. Nói như thế, thâm ý của Trí Quang muốn đánh giá xem chính quyền mới đã hành xử như thế nào. Và ông ta nhận thấy rằng nhiều người tham dự trong cuộc lật đổ ông Diệm thì chính bản thân họ chỉ là một thứ Diệm-không Diệm, và ông cho rằng họ chỉ sợ Diệm-Nhu tính chuyện xa lìa Mỹ hơn là bản thân họ tin tưởng rằng chế độ Diệm căn bản là xấu.


Theo phúc trình của CIA, 11 tháng 11 và 7 tháng 12, 1963, gởi về bộ Ngoại giao Mỹ, James McAllister viết,


“Vì niềm tin hay vì chiến thuật cần có, chính quyền Johnson đã bác bỏ ý kiến cho rằng xung đột tôn giáo chính phủ Việt Nam (chính phủ VNCH) cần bất kỳ cuộc đổi mới hoặc thanh trừng toàn bộ nhân sự nào. Tuy nhiên, Trí Quang không bao giờ chấp nhận ý kiến cho rằng xung đột tôn giáo và việc Thiên Chúa giáo đàn áp Phật giáo là vấn đề đã được giải quyết hoàn toàn bằng cách loại bỏ Diệm và Nhu khỏi ghế quyền lực. Dù nói rằng ông sẽ đánh giá chính phủ mới trên cơ sở thành quả, Trí Quang lo rằng nhiều người trong nhóm đảo chính là người của Diệm, và ông cho rằng họ đã hành dộng “vì sợ rằng Diệm và Nhu đang  xa lánh Hoa Kỳ chứ không phải họ tin là chế độ cũ về căn bản là sai.”(13). Đến tháng mười hai 1963, Trí Quang đã cho một số viên chức Hoa Kỳ biết rằng ông sẽ hoan nghênh một cuộc đảo chính khác nếu có thể lật đổ Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ, một nhân vật quan trọng trong chế dộ Diệm.(14)”


Trần Giao Thủy, Ibid. DCVOnline.net


Thích Trí Quang đã tự cho mình sau khi lật đổ ông Diệm cái quyền giám sát các chính quyền sau Diệm và nghĩ rằng đó chỉ là chính quyền Diệm không có Diệm nên ông ta quyết định phải hành dộng. Chỉ vài tháng sau, ông Trí Quang phát động tiến hành việc tiêu điệt dư đảng “Cần Lao Thiên Chúa giáo”.  Bởi vì ông cho rằng, việc trước tiên phải làm là phải tẩy sạch cần lao Thiên Chúa giáo trước khi tiến hành tranh đấu chống cộng sản và bè lũ của chúng.


Thoạt đầu, nhóm của TT Trí Quang cho thành lập Hội Đồng Nhân dân cứu Quốc. Hội đồng này nhằm điều hành toàn thể khối Phật tử miền Trung, đồng thời gián tiếp như một thứ tòa án xét xử các nhóm Cần Lao Thiên Chúa giáo. Hội đồng cũng lãnh đạo các cuộc biểu tình, các cuộc xuống đường gây biến động ở miền Trung. Hội đồng cũng cho ra tờ Lập Trường, cơ quan ngôn luận chính thức của Phong trào Nhân dân Cứu Quốc do Tôn Thất Hanh,chủ nhiệm, Lê Tuyên, chủ bút, Cao Huy Thuần, Tổng thư ký. Quản lý: Nguyễn Thị Trang. Tòa soạn đặt tại 17-B Lý Thường Kiệt- Huế. Hộp thư: 54, Điện thoại: 028.


Trong phần này, người viết chỉ xin nhấn mạnh vào mục tiêu thứ hai mà phần tài liệu về chủ trương của phong trào tranh đấu của Trí Quang đều dựa trên tờ báo Lập-Trường. Tờ báo này chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn, năm 1964 và tự đình bản sau khi giết được Phan Quang Đông, Ngô Đình Cẩn, thanh toản xong vụ Đặng Sĩ và dư đảng Cần Lao. Nói là dư đảng Cần Lao, nhưng sự thực chỉ là diệt người công giáo.


Để minh chứng về đường lối đấu tranh, diệt Cần Lao Thiên Chúa giáo của Hội đồng Nhân Dân Cứu Quốc, xin được trich một số đoạn trong tờ Lập Trường.


Trong một bài viết nhan đề Hai khuôn mặt (ám chỉ Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh. NVL), tác giả là C. Minh Thành cũng thúc bách Nguyễn Khánh phải hành động. Minh Thành viết:

image015

C. Minh Thành, Hai Khuôn Mặt, Lập Trường, 4-7-1964


“Dân chúng long trọng đặt câu hỏi với Thủ tướng Nguyễn Khánh: Bao giờ thì thủ tướng nhất quyết đứng vào thế của của nhân dân? Có nhân dân, Thủ tướng có thể làm được mọi việc. Không có nhân dân, dù Thủ tướng có được sự ủng hộ vô thời hạn và vô điều kiện từ bên ngoài đi nữa (ám chỉ Mỹ. NVL), Thủ tướng cũng sẽ chẳng làm được việc gì. Muốn có nhân dân rất dễ: Chính phủ chỉ việc thi hành một chính sách cách mạng.”


Báo Lập Trường, Thứ bảy 4-7-1964


Chụp mũ. (Quan điểm của tờ Lập Trường)

image016

Lập Trường, 30-5-1964


“Như thế còn chưa đủ. Đội được mũ cách mạng vào đầu, chúng lấy mũ Trung lập, mũ Cộng sản đi chụp đầu kẻ khác. Chúng phải sát hại dân lành. Cho nên chúng đã không ngần ngại vu cáo nhân dân, trước chúng đã chụp cái mũ cộng sản lên đầu các Tăng ni, Ni, Sư Sãi và tín dồ Phật giáo. Và lúc đó thì chúng đội mũ Cần lao. Bây giờ đây khi toàn dân đã làm cách mạng, chúng cướp công cách mạng của dân, rồi đem mũ Cộng sản, Trung lập chụp lên đầu những người đã làm Cách mạng. Chúng làm như thể chỉ có chúng mới thực tâm chống Cộng.Và đã có nhiều người đã lầm nghe chúng(…) Và chỉ có Cần lao mới có bè đảng dư phái tổ chức thao túng hết mọi cơ sở xã hội. Việt Nam từ 9 năm nay. Và cái thiểu số bất lương ấy đã hại không gớm tay hàng ngàn, hàng vạn dân lành vô tội. (Ngô Đình Diệm và gia đình ông ta đã thi hành chính sách chụp mụ ghê tởm đó. Kết quả là cả một món nợ máu phải trả trước quốc dân.) Cho nên phải ra tay diệt trừ chúng. Thử hỏi chính quyền của tướng Khánh có can đảm để làm chuyện đó hay không? Uy tín của tướng Khánh còn hay mất là ở chỗ diệt được sạch hay không những tên chụp mũ. Nếu không dân chúng sẽ diệt chúng cho chính quyền xem.


Báo Lập Trường Thứ bảy, 30-5-1964.


image017

Ông Phan Quang Đông (1929-9/5/1964) và thơ gởi vợ trước giờ bị xử tử. Nguồn: DCVOnline tổng hợp


Trong đoạn văn này, không hài tên rõ rệt đích danh người nào cả. Ai diệt? Chúng là ai?  Dùng chữ Nhân đân hay Chính quyền Nhân dân là ai? Và người duy nhất bị đe dọa ở đây là tướng Khánh. Tướng Khánh khi lên nắm chính quyền, dưới áp lực của Trí Quang. Khánh sợ hãi và đã làm theo tất cả lệnh của Trí Quang như giết Phan Quang Đông, Ngô Đình Cẫn và bỏ tù chung thân Đặng Sĩ. Và để thỏa mãn những đòi hỏi của Trí Quang. Khánh đã chỉ thị cho Nguyễn Văn Mầu, bộ trưởng tư pháp phải ra một đạo luật để có thể tử hình Ngô Đình Cẩn. Vì bộ Hoàng Việt hình luật thì không thể tuyên án tử hình về các tội phạm như bắt người trái phép. Bức tử tống tiền. Dự luật 4/64, ngày 18-2-1964 (Phan Quang Đông bị tử hình ngày 26-3-1964) có hiệu lực hồi tố. Một nguyên tắc căn bản của luật hình Việt Nam Cộng hòa chỉ được áp dụng với các hành vi xảy ra từ ngày ban hành luật chớ không áp dụng áp dụng xảy ra trước ngày đó.


Diệt Thiên Chúa giáo là ý đồ và mục tiêu của Trí Quang. Nếu là truy diệt dư đảng Cần Lao nói chung thì người đầu tiên phải thanh toán là tướng Lê Văn Nghiêm, vì ông là thứ Cần Lao “gộc” cũng như Đỗ Mậu. Rồi tiếp theo là ông Tỉnh trưởng kiêm Thị Trưởng thành phố Huế Nguyễn Văn Đẳng, bác sĩ Lê Khắc Quyến, ông đại biểu chính phủ Hồ Đắc Khương, các trưởng ty cảnh sát và rất nhiều người khác.


Điển hình là trong vụ xử án Đặng Sỹ chỉ có mình Đặng Sỹ lãnh án tù 20 năm chung thân khổ sai, còn tất cả những người khác thuộc Phật giáo đều vô can.


Sau cuộc đảo chính năm 1963, người đầu tiên bị Tòa án Cách Mạng xử về các tội cố sát, bắt giam người trái phép, sách thủ tiền bạc kết án tử hình là Phan Quang Đông ngày 26-3-1964. Phan Quang Đông là nhân viên Sở mật vụ từ năm 1957.[1]


Về vụ giết ông Ngô Đình Cẩn


Cái chết của Ngô Đình Cẩn là công trạng của Nguyễn Khánh dâng lên cho Trí Quang – như cái chết của Phan Quang Đông cũng như bản án tù khổ sai chung thân dành cho Thiếu tá Đăng Sỹ. Khánh là người bắt cá hai tay giữa khối Thiên Chúa giáo và Phật giáo. Khi nắm quyền, Khánh đang ở giữa vòng ngờ vực là kẻ mong manh muốn phục hồi chế độ cũ. Thành tích quá khứ đem quân về dẹp phe đảo chánh 11/11/1960 là lý do chính cho mối ngờ vực này cho nên vận mệnh chính quyền Nguyễn Khánh nương tựa phần lớn vào cái chết của Ngô Đình Cẩn. Và mỗi viên đạn ghim vào thân xác Ngô Đình Cẩn đều là một bảo đảm tương lai cho Khánh. Ngô Đình Cẩn nói đúng ra chỉ là một vật tế thần trong tình thế bấp bênh của một chính quyền không được quần chúng hai bên chấp nhận. Trong cuốn Viet Nam, A History trang 345, Stanley Karnow đã đưa ra nhận xét về Nguyễn Khánh,


“Thậm chí trong một xã hội không quá câu nệ về lương tâm, đạo đức. Ông cũng không được ai tin tưởng. Ông đã xây đắp sự nghiệp mình bằng cách xoay đổi sự liên kết của ông cho phe phái nào hứa hẹn sẽ thỏa mãn tham vọng vô bờ bến của ông.”


Stanley Karnow, Vietnam, A History.


Nhiều người nghĩ Khánh chỉ là một kép hề cải lương diễu dở! Tội nghiệp cho y mà cũng tội nghiệp cho đám tướng lãnh bất tài. Bởi sau khi ông Diệm thành người thiên cổ thì các nhược điểm của ông không hề được sửa đổi đồng thời những ưu điểm của ông không hề được tiếp nối mà do mặc cảm tự ty, chúng còn được thay thế bằng những nhược điểm nặng nề gấp hai lần.


Tôi còn nhìn thấy cái sự hèn mạt của các sĩ quan chỉ huy ở Đà Nẵng để cho Trí Quang đi duyệt đoàn quân như một vị thống lãnh trong khi vị chỉ huy khúm núm theo sau.


 Việc đầu tiên là có vụ bắt giữ Thiếu tá Nhung, chỉ một thời gian ngắn sau vụ Chỉnh Lý, rồi sau đó loan tin Nhung thắt cổ tự tử. Việc này vừa dằn mặt tướng Minh, vừà làm thỏa mãn vừa mua chuộc được cảm tình của giới công giáo. Và để mua chuộc phe Ấn Quang, chính quyền Nguyễn Khánh tuyên bố đem Ngô Đình Cẩn ra xét xử.


Bạn đọc có thể xem lại vụ án xử Ngô Đình Cẩn qua lời tường thuật của luật sự Võ Văn Quan, người trách nhiệm đứng ra  làm luật sư cãi cho Ngôn Đình Cẩn. Đó là cuốn Hồi ký, Luật sư. Nghề hay Nghiệp? Vài cảm nghĩ và kỷ niêm về một thời hành nghề. Vụ án Ngô Đình Cẩn hay là: Từ cố vấn chỉ đạo thành tử tội. Độc quyền của tờ báo Ngày Nay, năm 1982. Hay đọc Nguyễn Văn Lục, “Ngô Đình Cẩn, Ông là ai?” DCVOnline.net


Sau đây là quan điểm của Trí Quang về quyết định giết Cẩn theo báo cáo của CIA gởi về Bộ Ngoại giao Mỹ ngày  25 tháng, 1964 được James McAllister ghi lại,


“Không còn gì để nghi ngờ, bị ảnh hưởng vì việc cả Cẩn và Thiếu tá Đặng Sỹ đã gây tội ác tại căn cứ của ông ta tại miền Trung và thành phố Huế, Trí Quang đã bác bỏ sự khoan hồng trong vụ án. Cảnh cáo rằng tiếng tăm của ông ta sẽ bị thiệt hại nếu người ta biết ông phản đối việc xử tử Cẩn, Trí Quang tin rằng việc Cẩn bị xử tử là điều cần thiết để chứng minh rằng “đám tàn dư cũ của Diệm” không còn quyền hành gì nữa. Trong một cuộc họp với Lodge vào tháng tư năm 1964, Trí Quang đã cảnh cáo Đại sứ Mỹ rằng cuộc chiến chống lại Chủ Nghĩa Cộng Sản và sự hỗ trợ của Phật giáo cho Hoa Kỳ sẽ bị tổn thương nếu Cẩn không bị hành quyết.(21)”


Trần Giao Thủy, Ibid, DCVOnline.net


Ông Trí Quang đã có quan điểm tối cực đoan đến điên cuồng, đi đến chỗ vừa đe dọa, vừa mặc cả với Mỹ nếu Nguyễn Khánh không quan tâm đến việc làm cách mạng theo như ý của Trí Quang. Tài liệu của CIA gởi về cho Bộ Ngoại giao Mỹ ngay 23 tháng 8, 1964 và và một loạt các cuộc đối thoại  trong báo cáo gởi ngày 26 tháng 8, được McAllister ghi lại như sau,


“Ngay sau khi ông Khánh tuyên bố hiến pháp mới, cái gọi là Hiến chương Vũng Tàu, Trí Quang kết luận rằng Khánh không quan tâm đến việc làm cách mạng. Nếu Khánh không tự sẵn sàng làm những gì cần làm, Trí Quang đã thông báo cho tòa Đại sứ Mỹ hay, là Phật giáo đồ sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bắt tay vào một chiến dịch ‘bất hợp tác’ để buộc Khánh phải đi đến lựa chọn sau cùng giữa Phật tử và những tướng lãnh mà Trí Quang tin là đảng viên của Cần Lao hoặc Đại Việt. Vì rõ ràng có vẻ không có sự khác biệt giữa việc bị cộng sản hay người của Cần Lao đàn áp, Trí Quang cảnh cáo rằng Phật giáo đồ sẽ rút khỏi cuộc đấu tranh chống cộng và để người Mỹ và người Thiên Chúa giáo chiến đấu một mình nếu Khánh thất bại trong việc thanh trừng chính phủ của ông ta[29].”


Trần Giao Thủy, Ibid, DCVOnline.net


(Còn p 2/2)


© 2019 DCVOnline


Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net



Nguồn: DCVOnline biên tập, minh họa và phụ chú.


[1] DCVOnline: Những nguồn khác cho biết Phan Quang Đông là sinh viên sĩ quan Thủ Đức (4-9, 1954) đào ngũ, nhân viên sở Nghiên cứu Chính trị từ tháng 2, 1955. Chỉ huy trưởng Trung tâm Kiểm Thính Huế từ tháng 5, 1961 (thực ra là cơ quan tình báo của chính phủ VNCH hoạt động ở bắc vĩ tuyến 17.) Nguồn: Bản sao “Khẩu cung phan quang đông” (cán bộ Việt-Cộng lộn sòng trong hàng ngũ Quốc Gia), Trần Văn Cư, Chủ sự phòng Cảnh Sát, Nha Cảnh Sát Quốc Gia Miền Bắc Trung Nguyên Trung Phần. Huế, Ngày 8 tháng 5 năm 1964

image018

Thích Trí Quang, ông là ai? (2/2)


Nguyễn Văn Lục


chân thành cảm tạ từ ông TBT đảng cộng sản Lê Duẩn đến các ông Trần Bạch Đằng, ông Xuân Thủy cho đến cụ TBT đương nhiệm, nhờ các đồng chí mà ông Thích Trí Quang đã chịu ngồi im lặng từ 44 năm nay.


Thích Trí Quang: Ông là ai? Một nhà tu đạo hạnh hay một kẻ vĩ cuồng tôn giáo?

Tiếp thep p 1/2


Vụ Đặng Sỹ ra tòa trước tòa án Cách Mạng

Trước ngày Đặng Sỹ[2] ra tòa một tuần, tờ Lập Trường đã có nhiều bài viết nhằm cổ vũ cho việc tử hình Đặng Sỹ một cách cuồng nhiệt. Trong bài “Đặng Sỹ ra tòa tại Saigon”, tờ Lập Trường ghi:


“Đồng bào Huế và Trung Việt nghĩ sao? Đặng Sỹ ra tòa tại Saigon. Đối với dư luận xứ Huế: vụ thảm sát tại đài phát thanh chỉ là bước cuối cùng của cả một chương trình tận diệt tôn giáo. Dân chúng đã quá biết điều đó rồi. Trước ngày xử Ngô Đình Cẩn, tất cả các báo Sài gòn đều viết rằng nhân dân đã xử ông  Cẩn trước khi tòa án xử. Đối với Đặng Sỹ cũng vậy, nhân dân đã xử rồi chứ đâu có chờ đến tòa án Cách mạng.


Vì thế, Đặng Sỹ trước mặt người dân xứ Huế đương nhiên là một tội phạm. Rõ ràng như thế, mang xe tăng đến trước đài phát thanh, rồi ùm ùm, súng nổ, lựu đạn nổ rầm trời. 8 mạng trẻ con chết thê thảm? Mọi người đêm đó đều trông thấy. Chối cãi đi đằng nào?”


Tuần báo Lập Trường, Thứ bảy 30 tháng 5, 1964


Đọc trích đoạn trên, người ta có cảm tưởng đây là một vụ án trong Cải cách ruộng đất ngoài Việt Minh. Nhân dân đã xử rồi trước khi tòa án xét xử. Tội đã rành rành, mọi người đều chứng kiến, chối tội đằng nào được?


Một phóng viên  trong số báo Lập Trường ở trên viết


“Chúng tôi không muốn dành quyền phán xét cuả tòa án như một hai tờ báo ớ Saigòn đã làm, vì vậy chúng tôi không muốn bắt chước họ nêu tên nêu tuổi chánh phạm ở đây. Tên tuổi đó không phai mờ trong lòng dân chúng Huế được đâu? Không bao giờ.


“Cuối cùng chính quyền nghiêng về giải pháp đem Đặng Sỹ về Saigon xử. Chỉ tiếc một điều là Tòa án Cách mạng không xử Đặng Sỹ tại Huế, là nơi Đặng Sỹ phạm tội, để đồng bào, những người đã nhìn thấy sự thật trước mắt, sự thật ngày hôm nay vẫn còn hiển hiện trước mắt, tự mình lắng tai nghe thử những người xử án, nhân chứng và bị cáo nói gì trước tòa án về những việc đã xảy ra.


Cho nên, thật ra không phải người ta sợ hắn chết mà người ta chỉ sợ hắn không chịu im lặng để chết mà thôi. Chứ thử nghĩ nếu ra giữa tòa mà hắn cà rịch cà tàng khai hết những thượng lệnh mà hắn đã nhận để thi hành thì có tọa họa nó ra hết không. Người ta đang la làng lên là vì rứa. Nếu phải chết, tội chi mà y chết một mình, y sẽ khai tùm lum ra hết. Nếu không thì phải tìm cách cho y đừng nói. Chú học lịch sử còn nhớ vụ Nuremberg không? Biết bao nhiêu tội phạm chiến tranh tự tử trong ngục trước khi bị đem ra xử. Mình lo cho Đặng Sỹ là vì rứa.”


Tuần báo Lập Trường, tháng 6-6-64


Vì thế, cũng theo tờ Lập Trường, việc xử Đặng Sỹ làm nhiều người thất vọng đến dộ nghĩ rằng,


“Trước hiểm họa cộng sản, trước viễn tượng cách mạng sụp đổ, lòng tin sụp đổ, những chữ của chúng tôi đang chứa đầy tủi nhục của nhân dân xứ Huế, của những người đã vùng dậy làm cách mạng từ ngay sau đêm thảm sát đài phát thanh Huế, để rồi ngày nay thấy mình bị phản bội.”


Tuần báo Lập Trường số ngày 6-6-64


Đoạn văn trích dẫn trên tiết lộ cho thấy sự căm thù ngút trời của giới Phật tử của thầy Trí Quang chỉ mong cái chết của Đặng Sỹ[3] giống như cái chết của Phan Quang Đông, của Ngô Đình Cẩn. Họ thất vọng khi biết Đặng Sỹ chỉ bị án tù chung thân và họ bầy tỏ sự thất vọng và cho rằng họ đã bị phản bội! Gớm   thay cho lòng căm thù của người dân xứ Huế!


Phần TT Trí Quang lúc ấy đang ở Sàigon làm nhiều người ngạc nhiên về lời tuyên bố của ông. Ông đã xin khoan hồng cho Đặng Sỹ và đánh điện ra Huế mà nội dung như sau: “chúng ta khoan hồng chủ trương khoa hồng cho ông ấy thì không cần quan tâm đến những chi tiết khác làm gì.”


Chúng ta cần ghi nhận là lá thư của TT Trí Quang gửi cho tòa án xin khoan hồng cho Đặng Sỹ được gửi đến tòa án trước khi tòa xét xử. (Tòa án bắt đầu xét xử từ 9 giờ sáng ngày 2-6.)


Theo tôi, TT Trí Quang chẳng tử tế gì với Đặng Sỹ, vậy lý do gì ông xin khoan hồng?


Được biết rằng ngay từ 14-5-1964, TGM Nguyễn văn Bình đã gửi một lá thư viết bằng tiếng Pháp hơn nửa tháng trước, và sự can thiệp của TGM Bình như một lời cảnh cáo chính quyền. Trích dịch một trích đoạn  lá thư.


Kính gửi Quốc Trưởng


Kính gửi Thủ Tướng chính phủ


Kính gửi chủ tịch Ủy ban Cách mạng quân sự..


(…) Về những gì liên quan đặc biệt đến Khối công giáo, nhiều người trong bọn họ kể từ sau 1-11-63 đã bị kết tội và đối xử một cách bất công. Nhiều công chức cũng như quân nhân công giáo là nạn nhân của những biện pháp hoàn toàn không có bằng cớ. Nhiều người đã bị giam giữ chỉ vì lý do họ là người công giáo.


Nếu cho đến nay, chúng tôi đã chịu đựng một cách thầm lặng tất cả những sự xỉ nhục và bất công, chỉ vì một lý do duy nhất là chúng tôi muốn tránh để giữ được tình đoàn kết Quốc gia rất cần thiết trong việc chống lại cộng sản. Mặt khác, chúng tôi hoàn toàn ý thức được tính cách cực kỳ khó khăn và tế nhị của chính quyền trong hoàn cảnh hiện nay. Và chúng tôi chờ đợi ở nơi chính quyền những biện pháp mạnh mẽ  và công bằng.


Trong lúc này, nếu chúng tôi cứ tiếp tục giữ sự im lặng thì sẽ là một thiếu xót nặng nề với bổn phận đối với đất nước.


Trong trường hợp Đặng Sỹ, mọi người đều thấy rằng, người ta không muốn xét xử Đặng Sỹ trên bình diện pháp lý, mà xét  xử trên bình diện chính trị và tôn giáo.


Bằng cớ chứng minh là từ hơn một tháng nay, có một chiến dịch khích động quần chúng bởi những phim ảnh, đài phát thanh, báo chí, đòi hỏi một bản án tử hình cho Đặng Sỹ, bằng cách gây hận thù trong đám dân chúng cũng như ngay áp lực lên phía tòa án Cách Mạng.


Trước ngày mồng 8-5-1963, chính quyền hầu như chỉ biết Thiếu tá Đặng Sỹ, như một sỹ quan quân đội của VNCH, đã ba lần bị thương và 7 lần được vinh danh công trạng vì đã chiến đấu dũng cảm chống lại cộng sản và bảo vệ tổ quốc.


Sự việc muốn xét xử Đặng Sỹ là một điều bất công hiển nhiên.


Vì vậy, chúng tôi yêu cầu Quốc Trưởng, Thủ tướng chính phủ, ông Chủ tịch Ủy Ban Cách Mạng quân sự xét lại trường hợp Đặng Sỹ theo sự thật và công lý. Mà nếu không được như thế thì chúng tôi và những người công giáo, chúng tôi cảm thấy có bổn phận tranh đấu bằng mọi giá cho sự thật và lẽ công bằng. Trước ngày 1-11-1963, chúng tôi có dịp bày tỏ cho chính quyền lập trường  của chúng tôi. Ngày hôm nay chúng tôi cũng làm như vậy.


Nguyễn Văn Bình. Tổng Giám Mục Saìgon. Đại diện cho giáo quyền Việt Nam.


Nguyễn Văn Trung. tư liệu/phóng ảnh


Sau lá thư của TGM Nguyễn văn Bình, các Giám mục kêu gọi giáo dân bình tĩnh. Tránh hành dộng nóng nảy.


Lần đầu tiên trong đời, Trí Quang lùi một bước. Nhưng giả đó nhân nghĩa xin khoan hồng cho Đặng Sỹ trước áp lực nặng nề của phía Thiên Chúa giáo qua lá thư của TGM Nguyễn văn Bình. Không có lá thư này thì số phận Đặng Sỹ sẽ không khác gì Phan Quang Đông và Ngô Đình Cẩn.


Báo Chính Luận cũng đưa tin:


“ Ngày 14 tháng năm, tại Tòa TGM Saìgon, tất cả các giám mục Việt Nam đã mở một phiên họp bất thường. Theo  như chỗ chúng tôi biết, chương trình Hội Nghị gồm nhiều điểm quan trọng, liên quan đến bảo vệ quyền lợi tối cao của tín ngưỡng và tiền đồ dân tộc.”..(,,) Ngay chiều 14 tháng 5, các Giám mục đã ra thông cáo trấn an toàn thể khối Công giáo, khuyên tránh hành động nóng nảy, bởi vì các Giám mục đã cương quyết kịp thời. Áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của Giáo Hội và Tổ quốc.”


image019

Nhật báo Chính Luận số 18-5-1964


DCVOnline: Ngoài những nguồn Việt Nam, Arthur Dommen dựa theo thông tin của Marguerite-Higgins trong vụ LHQ điều tra đàn áp ở Việt Nam và nhất là tường thuật chi tiết của Ellen J. Hammer chỉ ra Đại úy Nguyễn Văn Minh và những người có mặt trong buổi họp sáng ngày 8 tháng 5, 1863 với ông Ngô Đình Cẩn kết luận thủ phạm gây ra vụ nổ trước Đài phát thanh Huế là người Mỹ. Arthur Dommen , Ibid. trang 508-512


Nói chung, tòa án cách Mạng của Nguyễn Khánh chỉ giết được hai mạng người là Phan Quang Đông và Ngô Đình Cẩn. Còn tất cả các án tù từ chung thân khổ sai thì chỉ trong vòng một năm, tất cả các can phạm đều được thả về và nhiều người được thả về còn được thu dung lại với một hồ sơ không tỳ vết.


Phải chăng vì như thế mà Trí Quang bất mãn với bất cứ chính phủ nào mới lên, vì đã không làm cách mạng theo ý của ông là phải triệt tiêu Cần Lao Thiên Chúa giáo!


Nhà sư chính trị

Cho đến nay, mặc dầu đã có nhiều tài liệu của Mỹ như CIA hay của tờ Lập Trường xác định ông Trí Quang không phải là người của cộng sản. Nhưng dư luận vẫn là dư luận.


Người viết xin trích dẫn lại một số đoạn tài liệu của CIA vào ngày 28- 08-64 như sau:


Một phân tích về vấn đề liên hệ có thể có với cộng sản phái, nhân cách và những mục tiêu của Trí Quang: Báo cáo Tình hình tính đến này 27 tháng Tám, 1964: Đánh giá cho rằng Trí Quang không phải là cộng sản, ông ta muốn thiết lập một chế độ thần quyền ở Việt Nam.


“An Analysis of Thich Tri Quang’s Possible Communist Affiliations, Personality and Goals: Situation Report as of 27 August 1964” (assessment is that Tri Quang is not a Communist; he would like to establish a theocracy in South Vietnam). Intelligence Information Cable, TDCS 314/02342-64. Aug. 28, 1964. 8 p. CONFIDENTIAL/NO FOREIGN DISSEM. SANITIZED copy. Released May 24, 1976.”


Tuy nhiên, theo tôi, những lời tuyên bố công khai trên tờ Lập Trường trước khi tờ báo đóng cửa là có vai trò quan trọng nhất:


“Tôi tin tưởng vững chắc rằng chủ nghĩa cộng sản không bao giờ có thể thắng được. Tôi tin tưởng vững chắc rằng chủ nghĩa cộng sản không phải là lý tưởng của loài người.”


Tuần báo Lập Trường, số ra ngày 17-10-1964


Trong một lần khác, khi trả lời một ký giả Nhật Bản Takhasi Oka, TT. Trí Quang nói:


“cộng sản chống chúng tôi, vì Phật giáo nằm trong lòng dân tộc. Cộng sản luôn luôn muốn tổ chức quần chúng mà Phật giáo lại là quần chúng. Điều đó gây khó khăn cho cả cộng sản lẫn chúng tôi.”


Hoành Linh Đỗ Mậu, “Việt Nam máu lửa quê hương tôi”, Hồi ký chính trị, 1988, trang 900.


Lập trường chống cộng sản của TT. Trí Quang, một chính sách quân sự với nhiều tham vọng, và còn bộc lộ công khai khi ông có dịp giao tiếp với các viên chức Mỹ như Đại sứ Cabot Lodge, các nhân viên CIA..


“Quang tự ý nói ông chấp thuận ý tưởng sang Lào để cắt đường tiếp tế của VC, và ông cũng rất nhiệt tình về đem oanh tạc đàu tiên của Không quân VN vào những căn cứ Việt Cộng. Tôi hỏi ông ta nghĩ gì về việc tấn công miền bắc và ông ấy nói ông sẽ ủng hộ nếu có thể làm việc đó mà không kéo Nga hay Cộng sản Trung Hoa vào cuộc.(19)”


Trần Giao Thủy, Ibid., DCVOnline.net


Bản dịch “‘Only Religions Count in Vietnam’: Thich Trí Quang and the Vietnam War” của Trần Giao Thủy, ở chỗ khác cũng ghi lại như trên:


“Dù công nhận một nhân vật lãnh đạo Phật giáo chủ trương bạo lực là điều bất thường, tuy nhiên, Trí Quang vẫn ủng hộ  những “biện pháp quân sự mạnh” vì ông cảm thấy rằng “nếu chiến tranh kéo dài ở mức hiện tại, số người thiệt mạng sẽ nhiều hơn so với một cuộc chiến nhanh hơn mặc dù có giai đoạn đẫm máu hơn.” (26). Khi Hoa Kỳ oanh tạc Bắc Việt vào tháng 8 năm 1964, Trí Quang đã nói với một viên chức tòa Đại sứ Mỹ rằng các thành phần lãnh đạo Phật giáo và “ người dân” đều tán thành những cuộc tấn công đó vì nó cho thấy “quyết tâm” thi hành những biện pháp quân sự cúng rắn của chúng ta (22).”


Trần Giao Thủy, Ibid., DCVOnline.net


Thái độ tích cực “chống cộng” của ông Trí Quang đã được người Mỹ đánh giá như sau:


“Không còn phải ngạc nhiên, vào cuối tháng 11 năm 1964, giới chức Mỹ rất hài lòng với ý thức và tư tưởng chính trị của phong trào Phật giáo; thái độ của phong trào Phật giáo là thuận lợi và sự cần thiết của sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam và những nước khác của Châu Á và được nhìn nhận.(46)”


Trần Giao Thủy, Ibid., DCVOnline.net


Nếu những tài liệu nêu trên được coi là khả tín về nguồn tài liệu. Vấn đề dặt ra là liệu có thể coi Trí Quang là phần tử chống cộng đáng tin cậy?


Nếu thật sự là như thế thì ông Trí Quang với người viết bài này và đa số dân miền Nam là cùng chiến tuyến! Tôi phải coi ông là người anh em, hoặc “đồng chí”. Và  nếu như thế thì những thành phần trí thức mà tôi đã có dịp nêu tên tuổi được biết phần đông họ từng theo cộng sản, có thẻ đảng hoặc thiên Cộng. Họ sẽ phải có thái độ nào với thầy Trí Quang của họ? Họ rơi vào tình trạng phải quyết định theo Đảng hay theo Thầy?


Tuy nhiên, trên thực tế là tôi chưa thấy một việc làm cụ thể tích cực nào của ông để bảo đảm cho những quyết tâm của ông chống lại cộng sản. Rất tiếc là tờ Lập Trường của ông với luận điệu của tờ báo bắt người ta liên tưởng đến một tờ tuần báo do cộng sản ở bên trong giật giây và điều hành.


Hình như sự quan tâm của ông đối với người Mỹ chỉ với mục đích chỉ là trấn an, tránh sự nghi ngờ ông hơn là có những việc làm cụ thể. Và đoạn văn trích dẫn sau đây cho thấy ông có thể là chơi trò đu giây giữa Mỹ và cộng sản.


“Rõ ràng đó là một nỗ lực để trấn an Đại sứ Mỹ, và một điều mà một chính trị gia nhiều kinh nghiệm như Lodge chắc chắn có thể hiểu được, là Trí Quang và các nhân vật lãnh đạo Phật giáo khác tuyên bố rằng dù quan điểm thân Mỹ của họ là chân thành, nhưng “họ không thể bày tỏ quan điểm này một cách công khai vì làm như vậy sẽ gây thiệt hại cho vai trò tôn giáo của họ.” (24). Thật vậy, Trí Quang đã tranh luận với giới chức Mỹ vào cuối tháng 5 năm 1964 rằng thật có ích khi một số báo chí nước ngoài gián nhãn hiệu cộng sản cho ông ta vì nó cho phép ông “làm việc âm thầm hiệu quả hơn chống lại ảnh hưởng của Việt Cộng với Phật giáo đồ, những người đã biết rõ bản thân ông không phải là người cộng sản.”(25)


Trần Giao Thủy, Ibid., DCVOnline.net


Biện luận trên của ông Trí Quang có tính cách hàm hồ và không thuyết phục. Mặc dầu trước đó đã có dư luận cho rằng phong trào Phật giáo chống đối đã bị cộng sản lợi dụng. Tài liệu của CIA cho biết:


“Bối rối trước tình trạng hỗn loạn ở Việt Nam, giới phân tích qua CIA bắt đầu cố hết sức làm việc để xác định bản chất của những mục tiêu và ý định của Trí Quang. Không cần phải nói, những thẩm định lại của người Mỹ về động cơ của Trí Quang không có gì chắc cả. Trong hai bản phuc trình dài, CIA miêu tả Trí Quang là một kẻ mị dân, triệt để chống Thiên Chúa giáo, một người theo chủ nghĩa dân tộc cuồng tín và một người hoang tưởng tự đại (vĩ cuồng) với mục tiêu cuối cùng là thiết lập một chế độ thần quyền Phật giáo ở Việt Nam.” (31) […]


Một người Mỹ trước đây, tướng Taylor, khi còn làm đại sứ vẫn tin tưởng rằng Trí Quang không là một người cộng sản, thì nay đã nghĩ rằng Lodge và và chính phủ VNCH “nên khai triển một kế hoạch lột trần Trí Quang trước công chúng Việt Nam và thế giới như một kẻ phiến loạn được cộng sản hậu thuẫn với ý định tiêu diệt chính quyền phi cộng sản ở Saigon vì lợi ích của Việt Cộng và Hà Nội” (86). Và Lodge đã điện về Wagshington vào tháng tư năm 1966 cho biết, “Chúng ta nên rõ ràng trong suy nghĩ của mình, giới lãnh đạo Phật giáo là đối thủ của chúng ta” (87).


Trần Giao Thủy, Ibid., DCVOnline.net


Và sau đó việc gì phải đến đã đến.Nguyễn Cao Kỳ sai Nguyễn Ngọc Loan ra dẹp  Phật giáo ở Huế và dẫn độ Trí Quang về Sàigon giam lỏng tại dưỡng đường Duy Tân của Nguyễn Duy Tài.


Chỉnh lý Nguyễn Khánh. Nguồn Bristish Pathé


Trước khi chấm dứt phần này, tôi đặt vấn đề là ông Trí Quang lấy tư cách gì, nhân danh tôn giáo gi để lên án các chính quyền? Tư cách gì , thẩm quyền nào cho phép ông “khoan hồng” cho Đặng Sỹ?


Tham vọng diệt Cần Lao Thiên Chúa giáo đạt được kết quả gì?


Tham vọng  của Trí Quang vào thế kỷ 20 muốn Phật Giáo đồng hóa vào dân tộc là một tham vọng mù quáng, ấu trĩ tôn giáo hay tôn giáo còn ở thời kỳ sơ khai. Người có chút hiểu biết và văn hóa tối thiểu không thể có những ý thức tôn giáo hẹp hòi thiển cận như thế. Ở đây mới cho thấy, trình độ văn hóa quá kém chỉ vừa qua bậc tiểu học, biến Trí Quang thành một kẻ cuồng tín ngông cuồng. Vậy mà tại sao cũng có những thành phần có ăn có học có thể chấp nhận và theo ông ta? Phải nói rằng Trí Quang đã dùng mọi nỗ lực cũng như tầm ảnh hưởng của mình để thực hiện cho bằng được việc diệt trừ Cần Lao Thiên Chúa Giáo. Sự sách động quần chúng Phật tử bằng cách phao truyền trong dân chúng là chế độ Diệm đã đàn áp Phật giáo và nay họ cần phải đứng lên diệt những tên “Cần Lao ác ôn” như Phan Quang Đông, Ngô Đình Cẩn, Đặng Sỹ. Phải nói rằng sự vận động ấy đạt được kết quả trong vụ xử án Phan Quang Đông tại Huế. Nhưng đây chỉ là trò mị dân như CIA ghi nhận ở trên.


Trí Quang còn dùng ảnh hưởng của mình kêu gọi các chính quyền tiếp theo phải thực hiện cuộc cách mạng, có nghĩa là triệt tiêu dư đảng Cần Lao Thiên Chúa giáo. Mặt khác thuyết phục và răn đe Mỹ là Phật giáo chỉ chống cộng sản bên cạnh Mỹ nếu trước tiên phải quét sạch được nhóm Cần Lao Thiên Chúa giáo.


Kết quả là có hai án tử hình và một án chung thân khổ sai. Chưa kể một số bản án Cảnh sát Quốc gia ra tòa án cách mạng ngày 17-6. Có 14 bị can, tha bổng 9 còn lại 4 án tù chung thân là: Đại tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc CSQG. Nguyễn Văn Hay cựu Phó tổng giám đốc CSQG (Vợ ông Nguyễn Văn Hay là em bà con với Dương Văn Minh. Theo sự tiết lộ của ông Dương Văn Hiếu) và Khưu Văn Hai và Trần Bửu Liêm. Tha bổng các bị can Huỳnh Phước Bang, Lê Văn Thảo, Nguyễn Văn Ngời, Nguyễn Trần Huân, Nguyễn Văn Hiếu, Võ Văn Chẻ và Võ Văn Dưỡng. Tiếp theo vụ xử án  “Mật Vụ” ngày thứ tư 26-6-1964 như: Dương Văn Hiêu: chung than khổ sai. Thái Đen: Chung thân khổ sai. Nguyễn Thiện Dzai: chung thân khổ sai. Phan Khanh: 10 năm khổ sai.


Tất cả các vụ án này đều xử cho có lệ, và sau đó một thời gian ngắn, họ đều được thả về. ngay trong năm 1964, như trường hợp ông Dương Văn Hiếu. Trong bài trả lời phóng vấn ông Dương Văn Hiếu của ông Lâm Lễ Trinh. Ông Dương Văn Hiếu cho biết thêm trong các phiên xử khác, tòa phạt từ tù đến khổ sai chung thân các ông Trần Kim Tuyến, Nguyễn Văn Y, Trần Văn Tư, Hà Như Chi, Nguyễn Lương, Ngô Trọng Hiếu, Cao Xuân Vỹ, Bùi Dzinh.


Theo ông Dương Văn Hiếu, không nhớ rõ ngày tháng,


“Năm 1964, một buổi sáng, chính phủ cho ba chiếc máy bay Dakota DC3 ra Côn Sơn chở tất cả tội nhân ( lối 30, 40 người) về Sàigon và chúng tôi được phóng thích. Một thời gian ngắn sau, cũng theo lời ông Hiếu, ông được giấy đòi của công an, Trung tá Nguyễn Mậu dẫn tôi đến trình diện với Tổng giám đốc Trần Văn Hai. Tướng Hai đưa tôi bằng xe jeep đến Bộ Nội vụ trình diện với tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Khiêm tiếp tôi nhã nhặn và “khuyên” tôi nên thủ phận làm ăn. Đây là một lời cảnh cáo rất rõ. Năm 1968, tôi có giấy đòi đến trình diện tại Phủ Đặc Ủy Trung Ương tình báo, bến Bạch Đằng. Nơi đây, Đặc Ủy trưởng đề nghị tôi hợp tác với phòng nghiên cứu về tình báo.


Lâm Lễ Trinh. Thức tỉnh. Quốc Gia và Cộng sản, 2007 trang 425


(Giai đoạn Dương Văn Hiếu bị “ cầm chân” ở cục Trung ương tình báo được tướng Bình xác nhận, hiện ở San José xác nhận.)


Đoạn trích dẫn trên nó tố cáo cái tòa án cách mạng chỉ là một trò chơi quyền lực thiếu tất cả giá trị pháp lý, chỉ là trò chơi chính trị bỉ ổi của một thời vô pháp luật, vô trật tự và nhiễu nhương


Xin một lần được nhắc tên những đao phủ thủ ở tòa án cách mạng. Chánh thẩm: Lê Văn Thụ. Công tố Viện: Lê Văn Đức. Phụ thẩm quân sự: Đại tá Lê Trung Trực. Đại tá Phạm Xuân Nhuận. Đại tá Huỳnh Hữu Thiện và người cuối cùng: Trung tá Dương Hiếu Nghĩa, người đã tháp tùng xe thiết giáp mà Dại úy Nhung đã thảm sát hai ông Diệm-Nhu.


Chính vì thế mà khi có chính phủ khác lên thay, không lạ gì trò đời, tất cả bọn họ đều được thả về từ nhà tù Côn Sơn vỏn vẹn từ lúc ra đến lúc về chỉ trong vài tháng.


1963-1971


8 năm sau, cũng ngày 2-11 năm 1971, ngày lật đổ ông Diệm năm 1963 tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, theo lời tường thuật của VNTTX (Vietnam Press), có khoảng  hơn  5000 người tụ tập tại nhà thờ Đức Bà để dự một lễ cầu hồn (Requiem mess) cho TT Ngô Đinh Diệm và bào đệ ông Ngô Đình Nhu.


Trong hàng quan khách, người ta nhận thấy sự có mặt của một số nhân vật chính trị trong chính quyền trong đó có mặt bà phu nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, phó Tổng thống Trần Văn Hương. Nhưng đặc biệt xin trích dẫn nguyên văn “and even former Generals Do Mau and Le Văn Nghiêm, both  noted enemies of the man being honoured.” (và có cả hai tướng Đỗ Mậu và Lê Văn Nghiêm vốn được coi như kẻ thù của người mà ngày hôm nay được tưởng niệm.)


Trích đoạn trên đây rút ra từ luận văn của Sean Fear, đăng trong Journal of  Vietnamese studies, Vol.11, Issue 1, pps,1-75. ISSN 1559-372X, electronic 1559-3738, với nhan đề The Ambiguous Legacy of Ngo Đinh Diem in South Việt Nam’s second Republic (1967-1975). Đây là một bài luận văn ngắn với 197 tài liệu trích dẫn đủ loại, Mỹ và rất nhiều nguồn của tác giả Việt Nam.


Thực sự, tôi không hiểu đươc mục đích hai vị tướng gốc Cần Lao gộc một là “Ủy viên Quân ủy Trung ương đảng Cần Lao”,  người kia, bí danh Minh Sơn, từng nắm chức vụ Bí thư Quân Ủy Lê Lợi, đảng Cần Lao đến dự buổi lễ tưởng niệm này. Tôi thiển nghĩ rằng, một trong những khuyết điểm của nền Đệ Nhất Cộng Hòa là đưa đảng Cần Lao vào trong quân đội vì nó làm suy yếu quân dội, tạo ra những bất công lạm dụng quyền thế.


Trong cuộc đảo chính ông Diệm, phần lớn, đáng tiếc thay, đều là tướng lãnh từng là đảng viên Cần Lao. Tôi gọi chung bọn họ là những hèn tướng. Sau này, có buổi lễ tương niệm tương tự ở San José, người ta cũng thấy sự hiện diện của tướng Nguyễn Khánh.


Người đứng ra tổ chức buổi tưởng niệm là Trương Công Cừu, một cựu đảng viên Cần Lao và cựu bộ trưởng đồng thời là chủ tịch Việt Nam Nhân xã Cách Mạng đảng. Mục đích của Nhân Xã đảng là làm sống lại đảng Cần Lao.


Vấn đề ở đây là người ta căn cứ trên sự nghiệp của TT. Ngô Đình Diệm thời Đệ I Cộng Hòa như điểm tựa để so sánh với thời  Đệ II. Từ đó tao ra bế tắc bất lợi cho người kế nghiệp ông Ngô Đình Diệm.


Tôi không đi vào chi tiết nội dung tài liệu. Và tôi tin rằng việc tưởng niệm là việc tùy tâm mỗi người. Nhưng tham vọng muốn làm sống lại chế độ ấy là một ảo tưởng. Nhiều người đã bỏ rơi nhóm Trương Công Cừu và đảng Nhân Xã. Vì nó tạo ra tình trạng chia rẽ và bất đồng và chỉ có lợi cho cộng sản.  Nhưng Đảng Cần Lao cũng không cần đợi đến Trí Quang phải ra tay tiêu diệt. Ngay chính Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình cũng cho rằng đảng Cân Lao là  một thời đã qua và chẳng nên khơi dậy lại nó nữa.


Nhưng tôi cũng muốn chỉ ra rằng chủ trương diệt Cần Lao Thiên Chúa giáo của Thích Trí Quang cho đến giờ phút này là một thất bại nặng nề. Chẳng những nó đã không diệt được mà còn tạo ra những mầm mống bất đồng gây chia rẽ tôn giáo và gây rối loạn chính trị cho miền Nam trong suốt 20 năm trời. Và qua buổi lễ tưởng niêm chính thức vào năm 1971 cho thấy chẳng những nó không bị tiêu diệt đi mà mỗi ngày càng lộ liễu một cách công khai không cần che đây.


Vài dòng kết luận.


Saigon 1955. Nguồn: Bristis Pathé


Trước khi chấm dứt bài viết này, tôi muốn bày tổ một vài nỗi niềm riêng tư ngoài sách vở, tài liệu. Nó có thể không mang lại ích lợi cho riêng ai mà rất có thể cũng là nỗi niềm của nhiều người miền Nam như tôi. Tôi là một người Thiên Chúa giáo, di cư vào miền Nam năm 1955. Biết bao ngỡ ngàng và khám phá. Cũng có nỗi lo về gốc gác địa phương, cũng như có thể có những ngộ nhận ban đầu.


image020

Người di cư và cuộc sống miền Nam (1955). Nguồn: LIFE


Thế nhưng, chỉ một thời gian ngắn sau, tất cả những lo toan ấy tan biến dần. Sự hội nhập và sự đón nhận rộng rãi chẳng bao lâu sau biến tôi một cách ngoài mong đợi như thể cá gặp nước, tôi tự coi mình như thể một người dân miền Nam chính hiệu lúc nào không hay. Mặc dầu tôi vẫn giữ riêng giọng nói miền Bắc và những tập tục ăn uống, tôn giáo. Hòa nhập mà không mất bản sắc. Tôi đứng vững trên đôi chân của mình với giọng Bắc thuần, chuẩn mực, trầm, đầy Nam tính. Tôi xin nói thật, tôi không còn có chút mặc cảm miền nào cả.


Nhưng điều chính yếu là tôi bày tỏ một sự hãnh diện công khai nhiều lần về sự hội nhập kỳ diệu này mà trong lòng nhủ thầm cám ơn sự rộng lượng của dân miền Nam. Không có sự rộng lượng ấy thì có nhiều lý do xã hội đưa đến cuộc đối đầu chưa biết sẽ như thế nào.


Sau này, tôi lại có dịp sống và làm việc lâu năm ở cả hai miền đất nước (miền Nam à miền Trung). Tôi đã có dịp đi hầu như hết mọi tỉnh thành. Những ngày sống ở miền Trung phải nhận là có nhiều gò bó, chật hẹp, có cái nhìn lạnh nhạt và đố kỵ. Sự nghiêm chỉnh là điều tồi tệ nhất của dân miền Trung dưới cái nhìn của tôi. Nhất là Huế. Huế chỉ có thể níu chân tôi lại vì một vài bóng áo dài tha thướt và giọng ngọt dịu. Còn lại chẳng là gì nữa với một khí hậu khắc nghiệt, nóng, mưa chỉ để sản sinh ra những cỏ dại và cây sương rồng.


image021

Cần Thơ 1969. Nguồn: Flickr.com


Mỗi lần xuống lục tỉnh, nhất là Cần Thơ sao nó dễ chịu thế. Đi đâu cũng nghe tiếng hò cải lương, ra rả suốt ngày, hang cùng ngõ hẻm, trên bến sông, trên chợ nổi, trong nhà trọ.. Tầm hai ba giờ, hình như vào ngày thứ ba là nghe tiếng hát Trần Văn Trạch, sổ số mau lên giúp đồng bào ta xây nhà giàu sang mấy hồi. Sổ số mau lên, sổ số gần đến. Chỉ có thế thôi mà quen thuộc quá đỗi. Nói chi đến các món ăn nhậu mỗi vùng.


Theo tôi, chiếc Ra-dô, hiệu Sony là biểu tượng sống của văn hóa miệt vườn ở miền đất Lục châu. Nó chơn chớt thật thà. Nó đơn giản và đơn điệu, thuộc lòng,  mà đầy quyến rũ,  mà nghe mát gan mát ruột. Nó lên cao, cao thật cao, cao chót vót, vội vã hối hả đến hổn hển, rồi nó đổ đến sầm môt cái xuống là đã quá chừng. Ôi cuộc sống đẹp làm sao!


Và tôi đã đi khắp các miệt ấy, thăm chùa chiền, thăm ông Đạo Dừa, thăm Thánh Thất Cao Đài, thăm Hòa Hảo. Tôi không thấy một tín hiệu dù rất nhỏ của chính quyền trong việc kỳ thị tôn giáo. Tôi cũng chưa một lần nghe ai than vãn về điều ấy. Không. Hoàn toàn không. Ngay cả khi ở miền Trung cũng vậy. Có thể trong chỗ nhóm bạn bè địa phương, họ bầy tỏ nỗi bực dọc mà tôi không biết. Tuy nhiên, sự  khó chơi, trở thành bạn bè thân thì có cách biệt miền, nhất là giọng nói đến lối sống thường khép kín đôi khi trở thành giả dối.


Thật hiếm có những bữa ăn nhậu chung.


Ở thành thị, nếp sống có khác. Người miền Trung trở thành thiểu số và họ cố tập đổi ra giọng nói Nam hay Bắc. Đấy là một dấu hiệu mặc cảm tự ty. Họ tự che dấu gốc gác miền của họ. Nhiều khi không khỏi ngạc nhiên khi hai người miền Trung gặp nhau, Họ đổi ra giọng Huế rặt.


Sự khép kín mở đường cho những bùng nổ miền và tôn giáo khó lường sau này.


Trong khi đó toàn miền Nam chan hòa tuổi trẻ và cuộc sống hài hòa đến độ nó có một bản sắc riêng, một nền giáo dục tự do và cởi mở, một ý thức nhân bản về quyền con người.  Nó là một thứ văn hóa đa dạng, tụ hội từ hai dòng chảy văn hóa trong sự hội nhập đến kỳ diệu. Chẳng hạn, nhạc Phạm Duy bắt nguồn từ ca dao, từ các câu hò tiếng hát, câu ví von từ ba miền. Nó ấp ủ con tim mới lớn. Chằng ai đặt câu hỏi vớ vẩn Phạm Duy người vùng nào?


Nói về nếp sống tôn giáo thì Sài Gòn đầy nhóc chùa chiền, đầy nhóc thiện Nam tín nữ trong những ngày lễ Hội. Lăng Bà Chiểu thì khói hương mịt mù.. Nói về giáo dục Phật giáo thì hầu như mỗi tỉnh đều có các trường Bồ Đề. Họ muốn có gì nữa? Họ muốn có tất cả trong một ngày?


Vậy mà những ngày an bình đó tự nhiên đất bằng nổi sóng với vụ Biến động miền Trung. Cả một đất nước nghiêng ngửa và có nhiều dấu hiệu chiến tranh tôn giáo, nếu các vị lãnh đạo tôn giáo không có những người trầm tĩnh như TT. Thích Tâm Châu, TGM Nguyễn Văn Bình thì cớ sự sẽ ra sao? Giả dụ mà TGM Ngô Đình Thục còn kẹt lại ở Huế thì sự thể sẽ ra sao? Tôi không dám nghĩ đến điều ấy.


Tất cả từ Huế, thánh địa của Phật giáo tranh đấu. Một miền đất đầy đau thương tủi nhục quá khứ và một giai đoạn đáng nguyền rủa, một miền đât đây nghi ngại. Cái miền đất mà khi cụ Huỳnh Thúc Kháng khi chọn trụ sở cho báo Tiếng Dân đã viết cho Xử lý thường vụ toàn quyền Pasquier, ông Khâm sứ Frirès như sau vao ngày 26-11-1926


“Chọn Tourane là một thành phố thương mại, không chọn Huế là một trung tâm văn hóa, nơi có nhiều trào lưu tư tưởng và chính kiến dị biệt, chắc chắn có những tư tưởng không hợp với chủ trương ôn hòa và mục tiêu giáo huấn đám đông của Tiếng Dân.”


Nguyễn Văn Lục, “Huế miền đất bất hạnh” trong cuốn “Lịch sử còn đó”, trang 297)


Huế đã nổi tiếng như thế rồi, nào phải đơi đến năm 1963. Đại nội, thành quách Huế với những bức tường mục nát, rêu phủ, chứa đầy những u ám của cả một thời kỳ lịch sử vàng son đã không còn nữa. Người Huế đi tìm cái mất, đòi lại cái có của họ bằng cách quật khởi vùng dậy, cách này cách khác.


Ông Trí Quang đã tập họp được tất cả những yếu tố lịch sử, thiên nhiên, con người để làm lịch sử theo cách riêng của ông ấy. Ba cái nạn đã phát nát miền Nam là: Cộng sản nằm vùng, bọn thiên tả sau trở thành lực lượng thứ ba và Phật giáo Ấn Quang của ông Trí Quang.


Như lời kết luận chung cục của Stanley Karnow,


Miền Nam Việt Nam sẽ chóng bị xé nát vì một cuộc nội chiến.


“Le Sud Viet Nam parut bientôt déchiré par une guerre civile.”


Stanley Karnow, Le Vietnam trang 271


Cho đến sau này, tướng Thi vẫn đổ cho biến động miền Trung là do tướng Thiệu Kỳ quá lệ thuộc Mỹ. Phần tướng Kỳ cũng dành hai chương 10, 11 trong Buddha’s Child để trình bày diễn tiến biến động miền Trung mà một phần trách nhiệm đổ cho tướng Thi ngả theo ông Trí Quang gây ra tình trạng hỗn loạn tại Huế-Đà Nẵng tạo hậu quả nguy hại cho miền Nam.


Ở đây, tôi xin đưa ra một nhận xét của tướng Kỳ là ông Trí Quang rất sợ chết. Theo tướng Kỳ, ông Trí Quang không muốn được chở bằng máy bay vận tải C-47 mà phần lớn đường bay đi dọc bờ biển. ông đã hỏi một nhân viên phi hành đoàn:


“Are you going to drop me into the sea? He quailed. “ No” said the crewman. “Our orders are to bring you to Saigon.”


Nguyen Cao Ky, Buddha’s Child trang 225.


Viên thiếu tá lái chiêc phi cơ chở ông Kỳ mới đây cũng xác nhận với tôi về điều này. Đường bay theo lộ trình qua tỉnh Quảng Ngãi. Viên thiếu tá đã hỏi ý kiến tướng Loan cho phép ném ông Trí Quang xuống biển. Nhưng tướng Loan không cho phép.


Tiếp đến Tết Mậu Thân mà hơn 400 người, từ đàn bà, trẻ con đã tụ tập tại nhà thờ Phủ Cam, trong đó có ông Thượng Nghị Sĩ Trần Điền. Hẳn là có chỉ điểm của bon nằm vùng như tên Nguyễn Đắc Xuân. Tất cả số người này đã bị giết đủ kiểu ở Khu Đá Mài, chỉ còn lại 428 cái sọ người. Tội này được coi là tội diệt chủng. Tháng sáu năm 1968, tôi đã dự lễ tại nhà thờ Phủ Cam. Nhà thờ phủ trắng khăn tang và cuối buổi lễ, tiếng khóc than, rên rỉ vang dội khắp nhà thờ. Họ chỉ có tội là người Thiên Chúa giáo. Mà tôi đã kết luận là: Người Huế giết người Huế. Ngoài ra còn có cái chết của lm Bửu Đồng, Hoàng Ngọc Bang, cha Urbain và Guy.


Phải chăng họ xứng đáng nhận những lời trách móc của ông già gân Trần Văn Hương, gọi họ là bọn đầu trọc, làm trò khỉ. Tôi không thể để cho bon con nít làm loạn!


Đó là tóm tắt những điều suy nghĩ của tôi. Và bây giờ ai là người gánh vác cái nạn vĩ cuồng tôn giáo của ông Trí Quang?


Trong cải rủi có cái may. Nhờ tập đoàn cộng sản độc tài toàn trị đã dập tắt những tham vọng bá quyền tôn giáo trong suốt 44 năm của ông Trí Quang.


Không biết thật sự ông có phải là người công sản hay không? Nhiều phần là không vì cộng sản đã  cách ly ông trong sự canh chừng. Nhưng đứng ở mặt khách quan, lợi hay hại thì rõ ràng việc quậy phá miền Nam của ông Trí Quang là đem lại lợi thế cho phía người cộng sản.


image022

14 tháng 8, 1967: Thích Trí quang trong một cuộc họp báo ở Saigon phản đối việc chính phủ công nhận Khối Việt Nam Quốc Tự (Thích Tâm Châu). Nguồn APWire


Họ tha chết cho ông đã là một phần thưởng.


Phần người dân miền Nam như tôi. Xin có lời cám ơn tướng Nguyễn Cao Kỳ đã giải quyết gọn lẹ biến dộng miền Trung mà không có ý kiến trực tiếp của người Mỹ.


Nhưng quan trọng hơn thế nữa, chân thành cảm tạ từ ông TBT đảng cộng sản Lê Duẩn đến các ông Trần Bạch Đằng, ông Xuân Thủy cho đến cụ TBT đương nhiệm, nhờ các đồng chí mà ông Thích Trí Quang đã chịu ngồi im lặng từ 44 năm nay. Xin hết lời.


© 2019 DCVOnline


Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net



Nguồn: DCVOnline biên tập, minh họa và phụ chú


[2] DCVOnline: Thiếu tá Đặng Sỹ là Phó Tỉnh trưởng Thừa Thiên và là nhân viên  chịu trách nhiệm cho các cuộc tấn công của chính phủ vào người Phật giáo biểu tình  tại Huế vào ngày 8 tháng 5 năm 1963. Đặng Sỹ đã bị giải nhiệm ngay sau sự vụ xẩy ra. Ông đã bị bắt sau khi chính quyền Diệm bị lật đổ vào tháng 11 năm 1963. “Major Dang-Sy was Deputy Chief of Thua Thien Province and the official responsible for the government attacks on Buddhist demonstrators in Hue on May 8, 1963. Dang-Sy was relieved of his duties soon after the incident. After the overthrow of the Diem government in November 1963, he was arrested.”  Telegram From the Embassy in Vietnam to the Department of State (Department of State, Central Files, POL 27 VIET S. Top Secret; Exdis.)


[3] DCVOnline: CIA, Special Report, “The Buddhists in South Vietnam”, 28 June 1963: Một vụ rắc rối gần đây nhất đã nổ ra vào ngày 8 tháng 5 tại thành phố Huế vì quy định của chính phủ hạn chế việc treo cờ tôn giáo trong lễ Phật Đản. Những người theo đạo Phật đặc biệt tức giận vì người Thiên Chúa giáo ở Huế đã được phép vi phạm các quy định đó chỉ một vài ngày trước. Mặc dù vấn đề có thể có trong thời gian ngắn và cục bộ, nhưng nó lại có tầm quan trọng mới khi một số người đã bị tử thương khi lực lượng an ninh giải tán đám đông — những cái chết mà chính phủ cố đổ lỗi cho bọn khủng bố Việt Cộng. “The most recent round of trouble erupted om 8 May in the city of Huế over government regulations restricting the display of religious flags during the commemoration of Buddha’s birthday. The Buddhists were particularly upset because Catholics in Huế had been permitted to violate the regulations only a few days earlier. Although the issue might otherwise have bên short-lived and localized, it took on new importance when several persons were killed during effort by security forces to disperse a crowd – deaths which the government tried to blame on Viet Cong terrorists.”


+++++++++++++++++++++++++++++++++++


XEM THÊM:


PHỎNG VẤN ÔNG NGUYỄN CAO KỲ, CHỦ TỊCH ỦY BAN HÀNH PHÁP TRUNG ƯƠNG, THỦ TƯỚNG, PHÓ TT VNCH


image023


https://www.youtube.com/watch?v=SAby052GZOM

20 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 299)