Bảo vật quốc gia: Những phát hiện bất ngờ

05 Tháng Mười 20178:10 CH(Xem: 1116)

VĂN HÓA ONLINE - VĂN HÓA LỊCH SỬ  - THỨ  SÁU  06  OCT  2017


Bảo vật quốc gia: Những phát hiện bất ngờ


10/05/2016


image034


TTO - Trong số 104 bảo vật quốc gia được Chính phủ công nhận từ tháng 10-2012 đến nay, có nhiều hiện vật do người dân phát hiện một cách rất tình cờ.


image035

Ông Nguyễn Văn Chín tại khu đất Lõng Rồng, nơi đào được chuông cổ - Ảnh: Thái Lộc


Kỳ 1: “Quả bom nổ chậm” ở làng My Dương


Trong nhiều câu chuyện thú vị liên quan đến việc phát hiện này, có không ít chuyện thật mà như đùa, cười ra nước mắt… Khi đào lên một vật đen sì từ lòng đất, mọi người hoảng hốt vì tưởng nhầm là quả bom nổ chậm.


Chuông mà tưởng bom


Từ Hà Nội, chúng tôi tìm về làng My Dương (xã Thanh Mai, Thanh Oai, Hà Nội), nơi đào được quả chuông cổ nhất Việt Nam, để tìm hiểu ngọn ngành câu chuyện.


Gặp một cụ già đang chống gậy ở ngay đầu làng, chúng tôi hỏi về người tìm được quả chuông. Cụ bất ngờ bảo: “Chuông à, tôi đào được đấy. Mà lâu lắm rồi. Không phải đến bắt tôi đấy chứ!”.


Đó là cụ Nguyễn Văn Chín, năm nay 86 tuổi, là người đào được quả chuông đúng 30 năm trước. Cụ Chín cho biết hồi đó cùng con trai đi đào đất làm gạch thuê tại khu đất Lõng Rồng, cách đình Mai Chúa trước đây chừng 150m.


My Dương là ngôi làng cổ ven bờ sông Đáy, vốn có tên là Lỗi Dương. Dưới thời Lê được đổi tên là Mai Chúa, và thời Nguyễn đổi thành My Dương như ngày nay. Khu vực Lõng Rồng nơi đào được chuông vốn nằm cạnh đình My Dương trước đây.


Vì nằm cạnh đê phía bãi sông hằng năm lũ gây xói lở nên vào giữa thế kỷ 19, làng dời đình về vị trí hiện nay. Cùng với quả chuông, người dân còn tìm thấy những viên gạch cổ in nổi “hoa chanh” và một số vật dụng bằng gốm.


Ông Nguyễn Văn Thảo, năm nay 67 tuổi, là người chứng kiến toàn bộ sự việc. Ông đã viết lại trong tập câu chuyện của làng, với lời mở đầu: “Chuyện viết không dám thêm bớt một chi tiết nhỏ nào!”.


Rằng: “Đầu tháng 4-1986, ông Chín đào đất ở Lõng Rồng để làm gạch. Thùng làm gạch sâu hơn 3m so với mặt đất, lưỡi mai của ông chạm vào một vật. Ông lấy tay bới thì ra một vật đen sì, ông kêu thất thanh: “Bom, bom nổ chậm!”.


Ông leo mãi không lên khỏi thùng gạch vì sợ, nhiều lần ngã lăn xuống. Do có tiếng kêu bom nổ chậm nên những người làm gạch xung quanh nằm chết gí, kệ cho số phận ông Chín ra sao thì ra.


Mãi không thấy bom nổ, ông lấy lại bình tĩnh, nghĩ: Khéo có một vật báu gì nằm trong lòng đất mà số phận ông đến ngày hưởng. Ông nhẹ nhàng bới từng tí đất một. Cuối cùng ra nguyên hình cái chuông và ông kêu lên: “Chuông! Chuông chứ không phải bom!”.


Mọi người nghe ông kêu lên chạy đến chung vui và đòi chia phần. Nhiều người còn nghĩ có những vật báu nằm ở cạnh chuông còn đào xa hơn, cầu mong một sự may mắn đến với họ như ông Chín...”.


Sau khi đưa chuông về nhà, người dân báo tin và chính quyền xã đến nhà lập biên bản, không cho ông bán và để lại nhà nhờ ông trông giữ. Chuông được lau chùi sạch sẽ, được một vị trung tá công tác tại đơn vị quân đội gần đó biết chữ Hán xác định bước đầu là chuông được đúc vào năm 798.


Biết đây là quả chuông rất quý và được chính quyền giao trách nhiệm trông giữ, trong khi ngôi nhà của ông lại rất tuềnh toàng nên gần như suốt ngày ông Chín ở nhà trông giữ quả chuông.


image036

Bảo vật quốc gia chuông Thanh Mai trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội - Ảnh: Thái Lộc


Cái lằn cổ chân


Câu chuyện diễn ra đã 30 năm và người đào được, từng là chủ nhân của báu vật ấy vẫn nhớ như in cảm giác lâng lâng vì tưởng mình sắp được đổi đời.


Với trọng trách phải bảo vệ báu vật của quốc gia, ban đêm ông dùng sợi dây thép 4mm một đầu buộc vào chuông, một đầu ngoéo vào chân để ngủ. Một tiếng chuột chạy cũng khiến ông tỉnh giấc, giật thột, co chân lên khiến sợi thép hằn sâu vào thịt rất đau nhưng ông yên tâm khi chuông vẫn còn.


Ông Chín kể nhiều đêm nằm trong bóng tối với một vật báu đính liền với chân, ông thầm nghĩ tuổi già lại được lộc. Sau này Nhà nước sẽ quan tâm đến ông, ông sẽ xây cái nhà mái bằng và có một số tiền để dưỡng lão...


Vài ngày sau, chính quyền xã cùng nhiều cán bộ bảo tàng của tỉnh Hà Sơn Bình (cũ) và của trung ương về nhà ông.


Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Thảo, những người có chức trách và nhất là các chuyên gia lúc ấy hết lời khen ngợi ông Chín đã phát hiện được và có tinh thần bảo vệ, gìn giữ báu vật của quốc gia.


Một chuyên gia trong đoàn còn nhấn mạnh: “Chiếc chuông này là vô giá, bao nhiêu tiền cũng không mua được!”.


Họ hỏi đến nguyện vọng của ông Chín. Ông chỉ tay vào chỗ chân bị hằn do buộc dây thép và xin cấp trên cho tiền xây một cái nhà và một số tiền để dưỡng lão. Đoàn cán bộ đã ghi nhận ý kiến ấy. Chuông quý được đưa đi và ông Chín cứ thấp thỏm mong chờ số phận thay đổi.


Gia đình ông vốn bám chặt với mảnh vườn nhỏ, nông nhàn thì làm thuê, ăn còn không đủ nói chi đến thay đổi căn nhà tuềnh toàng dột nát. Chừ cơ hội đã tới, vợ chồng con cái sắp mở mày mở mặt với lời hứa của cán bộ rồi đây...


Thấp thỏm trong gần hai tháng sau, ông được chính quyền mời ra trụ sở UBND xã. Sau sự đón tiếp cởi mở và lời khen ngợi, chúc mừng, vị cán bộ trao cho ông một tờ giấy khen của UBND tỉnh Hà Sơn Bình.


Trên giấy khen ghi rõ ông là người đã có thành tích gìn giữ vật báu của quốc gia, do đích thân chủ tịch UBND tỉnh ký. Chờ đợi một lúc khá lâu không thấy có thêm gì nữa, ông Chín hỏi: “Có thế này thôi hả?”.


Vị cán bộ trả lời trịnh trọng: “Vâng, chỉ có thế thôi, ngoài ra không có gì!”. Ông Chín thất thểu ra về. Một người bạn đồng niên an ủi ông, rằng: “Lời chào cao hơn mâm cỗ!”. Ông Chín cười gượng nhìn xuống cổ chân, sau hai tháng vết hằn do buộc dây thép vẫn còn in...


Cổ nhất Việt Nam


Chuông Thanh Mai đang là hiện vật của Bảo tàng Hà Nội, cao 60cm (thân 52cm và quai 8cm), đường kính miệng 39cm, nặng 36kg, được xác định đúc bằng khuôn hai mang. Quai chuông được cách điệu bởi một đôi rồng đấu lưng.


Theo thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hòa (cán bộ Bảo tàng Hà Nội), “hình tượng rồng này gợi nhớ đến hình tượng rồng được khắc trên bia Trường Xuân - Thanh Hóa, niên đại năm 618”.


Phần đỉnh thì một số loại hoa văn và hàng cánh sen nối tiếp. Phần thân được chia thành bốn khoang phân cách bởi ba gờ nổi song song, và chỗ giao giữa các gờ nổi tạo thành núm chuông.


Đặc biệt là bản minh văn được khắc trong tám ô chuông gồm 1.530 chữ Hán do Hội Tùy hỉ gồm cả người Việt lẫn người Hoa đúc vào ngày 20 tháng 3 năm Mậu Dần, niên hiệu Trinh Nguyên thứ 14 (798).


Nội dung minh văn có nhắc đến nhiều địa danh hành chính và các chức quan lại đương thời. Đây cũng là lần đầu tiên thấy xuất hiện đơn vị đo lường khối lượng của người Việt là “90 cân Nam”.


Điều này góp phần minh chứng chuông được đúc trên đất Việt và được lưu truyền, sử dụng trên đất Việt.


Năm 2004, chuông Thanh Mai được công nhận là 1 trong 10 kỷ lục của văn hóa Phật giáo Việt Nam với danh hiệu quả chuông đồng cổ nhất Việt Nam.


Ngày 14-1-2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định công nhận bảo vật quốc gia đợt 3 cho 12 hiện vật, và chuông Thanh Mai nằm trong danh mục này.


Kỳ tới: Hiến bia quý, cầu một chữ “an”


THÁI LỘC


​3 trường hợp được đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài


09/06/2016


Quyết định quy định việc đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài có thời hạn để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành.


Theo đó, đối tượng áp dụng Quyết định này là các bộ, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); bảo tàng công lập, bảo tàng ngoài công lập; tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh (di tích); tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu bảo vật quốc gia.


Bảo vật quốc gia được đưa ra nước ngoài trong 3 trường hợp:


1- Phục vụ hoạt động đối ngoại của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội (hoạt động đối ngoại cấp nhà nước).


2- Thực hiện chương trình hợp tác quốc tế để giới thiệu, quảng bá lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam có quy mô và ý nghĩa đặc biệt cấp quốc gia, bộ, ngành, địa phương.


3- Thực hiện kế hoạch hợp tác quốc tế về nghiên cứu hoặc bảo quản bảo vật quốc gia.


image037


Việc đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài phải bảo đảm các điều kiện quy định tại Điều 44 Luật Di sản văn hóa; phải được xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, không bị hư hại đối với bảo vật quốc gia trong quá trình vận chuyển ra nước ngoài, lưu giữ tạm thời tại nước ngoài và đưa trở lại Việt Nam.


Bên cạnh đó, phải được xác định giá trị bằng tiền của bảo bật quốc gia làm cơ sở cho việc mua bảo hiểm; được miễn kiểm tra thực tế khi giải quyết thủ tục hải quan tại cửa khẩu.


Đồng thời, bảo vật quốc gia đang được bảo vệ và phát huy giá trị tại di tích chỉ được đưa ra nước ngoài để nghiên cứu, bảo quản hoặc phục vụ hoạt động đối ngoại cấp nhà nước; bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng ngoài công lập và bảo vật quốc gia thuộc sở hữu tư nhân được đưa ra nước ngoài theo quy định khi có bảo tàng công lập đại diện cho chủ sở hữu trong việc hợp tác với đối tác nước ngoài.


Đối tác nước ngoài tiếp nhận bảo vật quốc gia phải bảo đảm tính hợp pháp, có cơ sở vật chất, năng lực khoa học, kỹ thuật và công nghệ phù hợp với việc trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản.


Nguồn: Cổng thông tin điện tử Chính phủ


Chính phủ công nhận thêm 14 bảo vật quốc gia


23/12/2016


Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định công nhận bảo vật quốc gia (đợt 5, năm 2016) cho 14 hiện vật, nhóm hiện vật.


image038

Tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường được công nhận là bảo vật quốc gia


14 hiện vật, nhóm hiện vật gồm:


1. Ngẫu tượng Linga - Yoni (Niên đại: Thế kỷ V - VI, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp Trà Vinh).


2. Phù điêu Trà Liên 1 (Niên đại: nửa cuối Thế kỷ IX, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị).


3. Phù điêu Trà Liên 2 (Niên đại: nửa cuối Thế kỷ IX, hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị).


4. Phù điêu Thần Brahama (Niên đại: Thế kỷ XII - XIII, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp Bình Định).


5. Thống gốm hoa nâu (Niên đại: Thế kỷ XIII - XIV, triều Trần, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).


6. Bia “Thanh Mai Viên Thông tháp bi” (Niên đại: năm 1362 đời vua Trần Dụ Tông, hiện lưu giữ tại chùa Thanh Mai, xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương).


7. Bia vua Lê Thái Tổ (Niên đại: Năm 1431, hiện lưu giữ tại đền thờ vua Lê Thái Tổ, xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu).


8. Bia “Đại Việt Lam Sơn Chiêu Lăng bi” (Niên đại: cuối Thế kỷ XV, hiện lưu giữ tại Khu di tích lịch sử Lam Kinh, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).


9. Đôi chuông chùa Đà Quận - còn gọi là chùa Viên Minh (Niên đại: năm 1611 thời nhà Mạc, hiện lưu giữ tại Khu di tích Chùa Đà Quận - Đền Quan Triều, xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng).


10. Tượng Thiền sư Vũ Khắc Minh và Tượng Thiền sư Vũ Khắc Trường (Niên đại: giữa thế kỷ XVII, hiện được thờ tại di tích chùa Đậu, thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội).


11. Tượng Trấn Vũ đền Quán Thánh (Niên đại: khoảng cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII, hiện được thờ tại di tích đền Quán Thánh, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội).


12. Cửu Phẩm Liên Hoa chùa Động Ngọ (Niên đại: năm 1692, đời vua Lê Hy Tông, hiện lưu giữ tại chùa Động Ngọ, xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương).


13. Ấn vàng “Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo” (Niên đại: năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709), hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia).


14. Tập Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1945-1946 (Từ 30-8-1945 -- 28-2-1946, hiện lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ).


Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chủ tịch UBND các cấp nơi có bảo vật quốc gia; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ; người đứng đầu ngành, tổ chức được giao quản lý bảo vật quốc gia được công nhận nêu trên trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý đối với bảo vật quốc gia theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.


Theo Chinhphu.vn