Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Cùng Khổ từ Saigon (1977)

21 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 3180)

Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Cùng Khổ từ Saigon ngày 23 tháng 4 năm 1977

Lý Kiến Trúc

(Gởi đến những nhân vật trong ký sự vớí lòng ngưỡng mộ)

“Cộng sản kỵ nhất hai mẫu người: lỗi lạc trong đảng và bất khuất trong tù. Lỗi lạc sẽ tái hiện một Gorbachev, bất khuất sẽ tái hiện một Mandela. Cả hai mẫu người này đều có ở Việt Nam.” (LKT)

  image050

 Từ trái: Ls Trần Danh San, nhà báo Lý kiến Trúc, Ls Triệu Bá Thiệp, Kỹ sư Lê Hòa Phát.

Ảnh VH.

 

Bối Cảnh:

- Thời gian: Sau cái gọi là “giải phóng” ngày 23 tháng 4 năm 1977.

- Không gian: Ngày và Đêm.

 

Vài hàng phi lộ:

 

Chủ Nhật 15 tháng Tư, 2011, tại một nhà hàng ở Tp Westminster, Orange County, California, cựu Luật sư Trần Danh San và cựu Luật sư Triệu Bá Thiệp đã tổ chức buổi tiệc nhỏ trong vòng thân hữu. Thư mời ghi: “để cùng nhau nhớ lại các kỷ niệm đấu tranh”.

 

Luật sư Trần Danh San quá khiêm nhường; ông nói: “chỉ để nhớ lại các kỷ niệm”. Một kỷ niệm đấu tranh bằng xương, máu và hàng chục năm tù không chỉ để nhớ lại, mà phải nhắc lại, viết lại thật kỹ cho thế hệ mai sau biết rằng, chỉ mới sau hai năm “cái gọi là ngày “giải phóng miền Nam”, cái “khốn cùng”, cái “hấp hối”, cái “nhân quyền” của hàng triệu người Việt Nam yêu nước vừa mới được “giải phóng” nó như thế nào.

 

Dường như người ta muốn quên đi chữ ký của 7 người ký trong bản “Tuyên Ngôn của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”, nhưng dù muốn hay không muốn, bản tuyên ngôn đã đi vào lịch sử.

Trong niềm xúc động rưng rưng ở buổi tiệc, (tay vẫn không quên ly rượu đỏ), Ls Trần Danh San đọc lại, đọc thuộc lòng, bản “Tuyên Ngôn” viết từ ba mươi bốn năm trước. Chính San, người đã cầm chặt cái loa phóng thanh dõng dạc tuyên đọc bản Tuyên ngôn Nhân quyền trong giây phút “ra mắt” lẫy lừng ngay trước cửa nhà thờ Đức Bà Sàigon vào chiều ngày 23 tháng Tư năm 1977. San và các chiến hữu của ông chỉ làm chủ hiện trường được khoảng mươi phút. Mạng lưới tình báo công an dầy đặc nhanh chóng quật ngã toàn bộ các chiến sĩ nhân quyền, dí súng vào màng tang, trói ngược khủy tay, lôi lên xe cây bít bùng.

 

Số phận của bẩy nhân sĩ ký tên vào bản Tuyên ngôn Nhân quyền bị bắt tại trận ra sao? Án tù cho Ls Trần Danh San: 10 năm khổ sai và biệt giam, Ls Triệu Bá Thiệp 4 năm biệt giam. Các án tù dành cho các chiến hữu khác không kém phần nặng nề.

 

Nhắc về các chiến hữu, Ls San nói: “Họ là những người vượt qua cái sợ, cái đói, cái bạo lực của chính quyền chuyên chính vô sản. Họ can đảm dám nói lên, viết lên, quyền sống của con người, họ là nhữngngười khởi xướng đầu tiên cho phong trào đấu tranh cho nhân quyền, đấu tranh cho quyền sống cho ra sống của người dân Việt Nam trong một hoàn cảnh đen tối, cực kỳ bi đát và sự rình rập của công an sau hai năm “giải phóng, đặc biệt trong buổi tiệc hôm nay ở Quận Cam, chúng tôi không quên ghi nhớ hai chiến sĩ tuẫn tiết trong tù vì không chịu nhục, đó là Kiến trúc sư Nguyễn Văn Điệp và Giáo sư Hà Quốc Trung”.

 

34 năm sau, họ gặp nhau ở bàn tiệc rượu Quận Cam miền nam Cali. Vui thì có vui, nhưng ray rứt. Rượu vào, lời ra , mắt rưng rưng. Một thân hữu nói: nếu không có buổi tiệc rượu này được nhắc lại bởi chính hai người trong cuộc là Ls Trần Danh San và Ls Triệu Bá Thiệp, thì có lẽ bản Tuyên ngôn Nhân quyền đã vùi chôn theo quá khứ! Một thân hữu an ủi: Thôi, quên quá khứ đi. Một thân hữu phản đối: Không thể nào quên, phải nhắc lại sự thật của quá khứ để cho thế hệ mai sau nhìn thấy sự thật!

 

Những cánh tay giơ cao ly vang đỏ mừng hai cựu tù nhân Nhân quyền và một số chứng nhân khác còn sống rải rác trên nước Mỹ, nước Pháp không về được. Rượu đỏ chiêu linh hai kẻ sĩ tuẫn tiết. Người viết bài ký sự này cũng nâng ly, vinh hạnh được nâng ly. Lòng ngẫm nghĩ biết lấy gì đền đáp! Biết lấy gì trả nợ cho sự dấn thân, sự quên thân liều mình trong cơn bĩ cực quê hương.

 

Bài viết dưới đây không hẳn là một tư liệu lịch sử, cũng không là thiên phóng sựï. Dựa trên một sự kiện có thật, dựa theo các lời phát biểu, bài viết, lời kể, của các quý vị như Luật gia Nguyễn Hữu Thống, Thẩm phán Phan Quang Tuệ, Nhà văn Vũ Ký, Luật sư Triệu Bá Thiệp, Kỹ sư Lê Hòa Phát, Luật sư Trần Danh San, Luật sư Đoàn Thanh Liêm, Nhà báo Nguyễn Mạnh Cường, Họa sĩ Hồ Thành Đức, Luật sư Robert Huy, Doanh gia Lý Muối, Nhà báo Vũ Tài Lục, Nhà báo Vũ Ánh, v.v..… Xin kể lại để bày tỏ lòng ngưỡng mộ và xin dâng nén hương thơm đến hương hồn Luật sư Trần Danh San vừa qua đời hôm 11 tháng 11 năm 2013 tại Quận Cam.

 

1.

 

Bẩy cái đầu chụm vào nhau thì thầm trong căn nhà nhỏ ở ngoại ô Sàigon. Duy nhất chỉ có ngọn đèn điện vàng vọt phủ trên cái bàn gỗ, chai rượu vang đỏ và vài cái ly. Ngoài trời, đêm tối và lặng yên tịch mịch. Dường như cái yên ắng khác thường của những ngày

 

 

sau “giải phóng” trùm lên không gian và những đôi mắt lo âu. Trên các khuôn mặt trầm ngâm ngồi quanh bàn, không ít người lộ ra nét căng thẳng.

- Tôi nghĩ rằng… một người trong nhóm chợt lớn tiếng nói: “Trước hết chúng ta phải đưa ra cái tiền đề cho bản tuyên ngôn. Cái tiền đề đó phải làm sao báo cho thế giới và Liên hiệp quốc thấy rằng cuộc chiến của chúng ta hôm nay là cuộc chiến cho sự sống của người dân Việt, nói cho cùng nghĩa nó là cuộc chiến cho nhân quyền và dân quyền.

- Đành là vậy, nhưng có lớn quá không? Có khó quá không? Ai làm được chuyện này mang bản tuyên ngôn ra thế giới? Thật sự chúng ta chỉ muốn đồng bào có cuộc sống dễ thở hơn, đỡ đói khát hơn, vả lại, dùng ngôn từ đao to búa lớn bọn nó cười cho, vả lại … tôi thấy hơi nguy hiểm. Một người khác xen vào:

- Chúng ta may mắn đang được sống ở Sàigon. Chúng ta không phải đi kinh tế mới, không phải đi cầy sâu cuốc bẫm, không phải đi tập trung cải tạo. Tôi hỏi: Anh muốn ở Sàigòn hay muốn đi kinh tế mới? Chúng ta phải đánh đổi lý tưởng của chúng ta để còn sống đã …

- Đành vậy! Nhưng … theo tôi, cứ thong thả dựa vào tình hình rồi xem họ xem động tịnh ra sao đã.

- Tình hình gì nữa, khốn khổ quá mức rồi. Nếu chúng ta không lên tiếng, ai lên tiếng? nếu chúng ta không viết, ai viết? Tôi phản đối những ý nghĩ tiêu cực!

- Tôi đề nghị anh Phạm, anh Nguyễn thân với họ, bám sát họ, dò hỏi họ.

- Tôi đề nghị bản tuyên ngôn giao cho anh Đ, anh T may ra có điều kiện đi Pháp …

- Tôi đồng ý!

- Tôi cũng đồng ý!

Mấy cái đầu lại chụm vào nhau tiếp tục thì thầm.

 

2.

 

Chẳng khác gì trận động đất hủy diệt mọi sinh vật. Cả một xã hội miền Nam sụp đổ nhanh không thể tưởng tượng nổi. Một triệu quân miền Nam buông súng, một triệu quân đầu hàng theo Đại tướng đầu hàng vô điều kiện. Tổng thống, Thủ tướng tháo chạy thục mạng. Họ đang rung đùi với vợ con trên máy bay, ngoài hạm đội, ngoài hải ngoại. Đồn đãi về cuộc tắm máu lan truyền kinh hoàng khắp thành phố. Dân chúng hoảng sợ, nơm nớp. Nhưng họ lột xác thích ứng cũng nhanh chẳng kém gì cơn bão cách mạng. Những bộ quần áo bà ba đen che những đôi chân trắng ngần. Người ta hoảng sợ và răm rắp tuân lệnh tiếng loa oang oảng từng ngõ ngách khu phố kêu gọi mọi người tụ tập đi mít tinh hoan hô “giải phóng”. Những cuộc trả thù đẫm máu sẽ diễn ra khốc liệt, những móng tay sơn hồng sơn đỏ sẽ bị kềm sắt lột ra … nhưng rồi không ai thấy máu đâu cả! Vẫn có những nụ cười hớn hở quanh đây, những binh đoàn trẻ măng kéo về từ bưng biền, từ Trường Sơn, từ Bến Hải ùa vào Hòn Ngọc Viễn Đông ngơ ngác hiền lành. Những cuộc họp tổ dân phố thay cho bữa cơm tối. Những cuộc ruồng bố bắt bớ diễn ra âm thầm trong đêm vắng. Không ai thấy. Không ai có quyền biết.

 

Hòn ngọc viễn đông vẫn còn nguyên xi. Vài quả bom nổ, vài tiếng súng lẻ tẻ vẫn không làm mất đi vẻ đẹp Sàigon. Sàigon vô tư nhìn đường phố, xe hơi,, nhà lầu, buynh đinh, những hàng me, hàng phượng vĩ rợp bóng im lìm, chiêm ngưỡng cuộc cách mạng long trời lở đất! Người ta cho đó là cái phúc của Sàigon, nếu trước đây mà lỡ dại nghe lời một ông tướng kêu gọi tử thủ Stalingrade thì hậu quả khó lường! Âu cũng nhờ ông tướng đầu hàng vô điều kiện!

 

Phố phường Sàigon tràn ngập biểu ngữ, khẩu hiệu và cờ đỏ đỏ chót giang ngang những hàng me, trên những cột điện. Hàng trăm thanh niên nam nữ, hàng trăm đàn ông, đàn bà xưa nay ở trong xóm trong hẻm bỗng tràn ra đường với băng đỏ quấn tròn cánh tay tay cầm AK, M16 ngồi nghêng ngang trên xe jeep mỹ ngụy để lại. Người ta gọi là đoàn quân băng đỏ. Đáng sợ nhất là đoàn quân này. Quân này hăng say làm cách mạng còn hơn cách mạng ở trong rừng về. Ông thợ giầy trong ngõ cạnh nhà hôm qua nay bỗng trở thành ông uỷ ban, ông chủ tịch; cậu học sinh, sinh viên trẻ nay trở thành lãnh tụ đoàn viên thanh niên cộng sản! Sàigon bây giờ chỉ có chuyện tuân theo lời thông cáo của Uỷ ban Quân quản kêu gọi tất cả sĩ quan công chức chế độ cũ trình diện khăn gói quả mướp đi học tập ba ngày. Sàigon bây giờ giao cho các bà các chị các em các cháu … chạy gạo. Chạy gạo mới là chuyện sinh tử của Sàigon.

 

Người bắt đầu lao ra đường kiếm sống. Mọi con đường góc phố bỗng trở thành cái chợ khổng lồ mua mua bán bán, bất cứ thứ gì cũng có thể đổi chác được. “Chợ trời” là chữ nghĩa mới toanh của Sàigon sau “giải phóng”. Quan quyền dân giả đều là dân chợ trời. Chợ trời bỗng trở thành một không gian vui như tết. Rất cụ thể và sòng phẳng. Bất kỳ vật dụng gì trong nhà đang dùng, trong sở, nếu “cõng” ra được chợ trời đều mang lại niềm vui. Nhưng sau cùng thì gạo vẫn thiếu, chỉ có mì và bo bo. Dân Sàigon bắt đầu nếm mùi bo bo pha khoai lang củ sắn.

 

3.

 

Cứ sau buổi chiều làm ăn ở chợ trời, họ lại tụm nhau trên căn gác hẹp số 122 Hồng Thập Tự của nhà trí thức Duyệt Dương. Năm bẩy người, Dương, Phạm, Nguyễn, Ngô, Lê, Trần, Triệu … chẳng họp hành gì hay chia chác lời lỗ gì cả. Chính là chia nhau chiến lợi phẩm chợ trời chai rượu rum mía Tây Ninh, mấy gam cà phê rang bắp, vài gói thuốc là Thăng Long, thêm được vài tán đường thế là thành tiểu lễ, bữa nào có vị mót được chai vang là ngày đại lễ; chẳng bõ với những bữa ăn tây thịnh soạn ở nhà hàng của cụ Vũ Dung Đakao Tân Định. Kỷ niệm buồn! Cái đói âm thầm đi vào từng ngày, cái bao tử của những đứa con thơ, nay còn đâu nữa những ngày “bơ sữa”, nó đã khoác lên cái áo xa xỉ đế quốc tàn dư. Người ta bao cấp với nhau từng gam đường, ký gạo.

 

Nhóm của họ không đến nỗi tầm thường vì cái đói. Không thể vì cái đói mà quên đi “Chí cả lòng kiêu”. Họ tụm với nhau qua cái radio nhỏ, vặn đủ nghe nguồn thông tin cực hiếm. Ngoài kia thế giới đang rung chuyển, nhân loại đang chuyển động vì cơn bão tự do, dân chủ. Đâu đây ấp ủ “Mùa xuân Đông Âu”, “Hiến chương 77”, “Hiến chương Liên hiệp quốc”, thế giới đổi mầu chia hai lưỡng cực. Một nửa thế giới hân hoan chào mừng đoàn quân Mác Lênin của Lê Duẩn “Bách chiến bách thắng”. Một nửa thế giới lãng quên hàng triệu con người ở một đất nước xa xôi đang đói, đang bàng hoàng vì “hòa bình”. Hàng vạn người âm thầm lầm lũi trên những con thuyền mong manh chở người chạy trốn ra khơi.

 

Giá nào nhóm họ cũng phải bung ra.

Một buổi tối trên căn gác cà phê của trí thức Duyệt, khi dự thảo bản tuyên ngôn của “Những Người Cùng Khổ” gần như hoàn chỉnh, San Trần đề nghị mọi người cùng nhau ký tên vào.

 

- Nguy hiểm quá! Dũng Phạm gàn.

- Chúng ta ví như cá nằm trong rọ, cá nằm trong thớt, nó đập đầu bất cứ lúc nào! Cường Nguyễn bàn.

- Chúng ta tự do, không ai ép ai cả, tùy các anh! San Trần nghẹn lời, nói như nấc.

Cuối cùng mấy “anh em” doãi ra vào giờ thứ 25. Bản dự thảo rách nát đốt thành than. San Trần buồn bực bỏ ra về. Về nhưng trong đầu San thuộc lòng từng chữ. San nóng nẩy đi tìm “anh em” mới, lập nhóm mới.

 

4.

 

Nhớ đến cuộc họp đầu tiên của giới hành nghề luật sư do vị luật sư cao niên uy tín nhất nhì ở Sàigon chủ trì ở tòa án Sàigòn hôm mùng 5 tháng 5, 1975. Trò chuyện với các đồng nghiệp, người luật sư khả kính xoa tay lạc quan: “Cách mạng đã nói rõ, cuộc chiến này không ai thắng ai, chỉ có đế quốc Mỹ là thua. Đất nước ta đã thống nhất, kẻ Bắc người Nam triệu người như một, chung tay xây dựng”.

 

Uỷ ban Quân quản tiếp tục ra thêm thông cáo: Tất cả các sĩ quan, công chức chế độ cũ phải đến tập trung ở các địa điểm như Đại học xá Minh Mạng, trường nữ trung học Gia Long, v.v… để đi học tập đường lối chủ trương của cách mạng một tháng. Các chuyên viên, trí thức, văn nghệ sĩ tập trung học tập tại chỗ 3 ngày. Đêm đêm công an phường tập họp tổ dân phố họp tổ “tự phê”, tự tố giác những phần tử “phản động”, những phần tử trốn tránh học tập, những phần tử làm việc “cho xịa”, những phần tử ác ôn nợ máu với nhân dân, những phần tử tư sản mại bản bóc lột sức lao động của nhân dân.

 

San Trần là một trong số cả trăm trí thức, văn nghệ sĩ Sàigon may mắn không phải đi học tập dài hạn, chỉ ba ngày thôi. Những ngày còn lại lang thang dăm con phố cũ. Đồ đạc trong nhà dần dần chuyển hết ra chợ trời. Ngày ngày nốc đắng ly rượu “đế cồn”, mắt San mờ đi, mờ đi vì cái bóng chủ nghĩa cộng sản lởn vởn trong óc.

 

Cõi lòng tan nát, San thất thểu đạp cái xe đạp cũ mèm tìm lại căn gác cà phê số 4 Hồng Thập Tự. Các “đồng chí cũ” mỗi người một phương. Trời không phụ lòng người. San tìm thấy các “đồng chí mới”, đông đảo hơn, nhiệt tình hơn, đa số làm việc trong nghành luật. San nức lòng. Hóa ra vẫn còn quanh ta vẫn còn những tâm hồn cao thượng vị nghĩa quên thân.

 

Một phép lạ chợt đến để ẩn cư an toàn.

Đồng chí cũ họ Nguyễn bỗng tìm đến như một ân nhân. Họ Nguyễn dựa vào một anh cán bộ gốc Nam kỳ dựng được một cơ sở sản xuất thủ công nho nhỏ gọi là cơ sở tự sản tự tiêu, rất hợp pháp hợp thời dưới chế độ mới. Anh em nào muốn dựa vào đó mà sống hợp pháp ở Sàigon thì phải “đăng ký” và đóng góp. San đăng ký ngay vào cái cơ sở sản xuất mây tre lá mà Ngô Quốc Việt “bọn elite trường Tây” gọi đùa là “Công ty Hỗ tương Hại nhau” do Nguyễn Mạnh Cường “bọn elite trường Ta” làm giám đốc.

 

 

5.

 

Tay bắt mặt mừng bạn cũ bạn mới ở “Hội Trí Thức Yêu Nước” diễn ra ở Hội Việt Mỹ cũ trên đường Mạc Đĩnh Chi. Bang Trịnh, tổ trưởng tổ luật cách mạng đạt giấy mời giới trí thức Sàigòn tham dự một buổi họp đặc biệt. Ông kêu gọi ngành luật ngồi lại, trước mắt là để thi hành luật thông cáo của Uỷ Ban Quân Quản “học tập tại chỗ 3 ngày”. Ông ôn tồn thuyết trình cách mạng xưa nay luôn luôn tạo một vị trí xứng đáng cho giới trí thức, chứng cớ như Ls Nguyễn Hưũ Thọ, Kts Huỳnh Tấn Phát là những điển hình của giới trí thức tiến bộ. Bộ trưởng Tư pháp Trương Như Tảng, Bộ trưởng Y tế Dương Quỳnh Hoa, Chủ tịch Võ Văn Kiệt … cũng đã nhiều lần bày tỏ sự nối kết trí thức cùng nhau xây dựng đất nước thống nhất. Trí thức hồ hởi. Cựu Thủ tướng Lộc Nguyễn nhân danh cựu Thanh tra vũ khí bộ đội miền Đông Nam bộ Kháng chiến phát biểu hùng hồn: “Bây giờ cách mạng thành công, chúng tôi muốn biết chính sách của đảng cụ thể đối với chúng tôi ra sao?” Lần lượt các vị Thành Ngô, Liễng Trần, Trừng Nguyễn, Thiệp Triệu, San Trần, nhiều nữa, hăng hái phát biểu. Có vị chân thành ca ngợi cuộc chiến đấu vĩ đại của các lãnh tụ cộng sản nước nhà mới được thống nhất!

Tổ trưởng luật Bang Trịnh im lặng lắng nghe. Cho đến khi mọi người ra bãi xe đạp tan hàng ra về thì tổ trưởng Bang Trịnh bất ngờ từ bóng tối tiến sát đến Thiệp, San, nói như ra lệnh, thật khẽ: Chuồn đi!

 

Tiếng nói thầm nhưng tựa như tiếng sét bên tai San. San bừng tỉnh. Nháy mắt ra hiệu cho Thiệp, cả hai phóng xe đạp thật nhanh ra khỏi cổng cơ quan, chạy quanh co vào mấy con hẻm mất hút. Đằng sau hội trường trí thức đang họp, theo lời yêu cầu của cựu Thủ tướng Lộc Nguyễn, đảûng cụ thể chính sách ngay tức khắc: hai viên công an chìm mặc thường phục kẹp nách Lộc Nguyễn. Nhanh như hổ vồ mồi, rất êm, một chiếc xe Jin khuất dưới lùm cây bên kia đường xà lại, quăng Lộc vào trong xe. Êm và kín như bưng.

 

San và Thiệp thoát nhờ đàn em thương. Tổ trưởng Bang Trịnh là bạn vong niên của các đàn anh trong giới luật khoa. Khi còn là sinh viên tranh đấu ở Sàigòn. Bang nhớ đến tình nghiã thầy trò huynh đệ đối đãi với nhau trong các vụ xuống đường. Có lần Bang bị công an Sàigon bắt trói đưa về bót. Thầy phải ra tay cứu trò. Số phận con người trên con đường tranh đấu đôi khi chỉ trong gang tấc. Thoát nạn, San trốn biệt. Thiệp trốn biệt. Giữa chợ trời náo nhiệt, San lang thang chẳng khác nào một kẻ thất nghiệp vô danh. Nhưng San cũng khôgn thoát con mắt cú vọ của bọn tay sai tay rằn khắn đỏ. Băng đỏ lùng sục suốt đêm săn mồi “phản động”. Tiếng gõ cửa nửa đêm lạnh lùng khô khốc.

- Lôi cổ nó ra xe!

Trời còn kẽ hở cho San lần nữa. San thoát lưới.

 

Thất thểu đạp cái xe đạp gầy gò loang lổ, San lang thang hết con phố quen này qua con phố nọ, con phố quen đâu đây văng vẳng tiếng hát giữa đêm khuya: “Đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…” Ôi! tiếng hát gợi mùa chiến chinh se sắt. Cơn gió mạnh ở đâu ào đến lảo đảo chiếc xe cọc cạch. Dừng vội bên lề con đường mang tên vị công chúa Huyền Trân; San ngồi bệt trên lề, bụng cồn cào đói lả. San giật thót người. Từ gốc cây to đen mờ tối, một bóng người nhào ra. À, thì ra bóng một ả gái giơ tay vẫy vẫy cất tiếng:

- Anh ơi, vào đây anh, vào đây với em!

Dưới gốc cây đêm là hai thân thể trắng hếu đang ôm nhau. Bật lưng thẳng dậy như điện giật, San vơ lấy bi đông cắm đầu đạp.

 

6.

 

Suốt đêm qua, trong căn phòng nhỏ kín đáo, an toàn, những “đồng chí” mới cùng nhau duyệt xét lần cuối từng chữ, từng câu, bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Cùng Khổ. Họ đồng ký tên thật. Từng chữ, họ viết nắn nót, từng nghĩa họ pha một chút văn chương. Viết thế nào cho câu văn câu ý của bản tuyên ngôn đọc lên mọi người cùng hiểu, cùng thấm thía, cùng đồng tình. Có người đề nghị in ra truyền đơn. San nói nó có vẻ lén lút. Phổ biến ngầm trong giới trí thức. Thiệp nói khá nguy hiểm vì nhỡ bạn cầm vào nó xoát được đâm ra “hại bạn”. Vậy thì phải “ra mắt” thế nào? Hóc búa quá! Nhân cơ hội Uỷ ban Quân quản Tp HCM họp bàn cho phép các luật sư chế độ cũ được tái hành nghề tại tòa án. Một thoáng suy nghĩ lướt qua óc San. Đây là cơ hội bằng vàng. Phải công khai bản tuyên ngôn. Phải làm cho ra trò. Không thể úp mở được. Thà lộ bài còn hơn nửa kín nửa hở. Nó “giết” ngay, nó “thủ tiêu” ngay. Ván bài lật ngửa để … còn sống.

Ngay lập tức, San thành lập một “Uỷ Ban Nhân Quyền”. Anh em phong cho San là chủ tịch.

 

Khởi đầu có nhiều người cho rằng Uỷ ban này là của Hà Nội đẻ ra, nó là cái bẫy giăng cá trí thức tư sản. Một người trong nhóm bàn: tương kế tựu kế, ta khởi động nhân quyền cho Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Hà Nội. Tình báo cộng sản muốn như vậy. Ta cũng muốn như vậy để tạo tiếng vang. “Lưới” âm thầm giăng ra. Chỉ huy lưới, một ông Tướng già đời trong chiến trường thầm lặng hoạt động trường kỳ ở miền nam. “Lưới” giăng ra thật tinh vi. Quan trọng là phải gài cho được con nhện chui sâu, nằm im trong các nhóm “phản động”. San biết chuyện này. San biết cả con nhện. Nhưng chọn địa điểm nào để tung ra cho thế giới biết. Nhức đầu nhiều ngày.

 

San cẩn thận hé cánh cửa sổ từ căn phòng nhỏ trong toà án cũ nhìn bao quát đường phố Sàigon về đêm. Gió sông Sàigon mát rượi thổi luồn vào. Tháng Tư sắp trở về, cách mạng đang gia công sửa soạn chào mừng hai năm cách mạng thành công. Thỉnh thoảng vài chiếc xe nhà binh bít bùng chạy vội vã, bánh xe xiết lòng đường ken két phóng về hướng đại lộ Thống Nhất, hướng Bưu điện, hướng nhà thờ Đức Bà. Một tia sáng lóe trong óc San.

 

Đó là vào một buổi tối tháng Tư năm 1977. Hai năm sau “ngày giải phóng”, trong căn phòng nhỏ kín đáo trong tòa án Sàigon, bẩy người hẹn nhau vào ngày N, giờ G, tại địa điểm M… Những cánh tay giơ cao, xuyên qua ánh đèn vàng lủng lẳng trên trần nhà, những chiếc ly pha lê sóng sánh vang đỏ bỗng óng đỏ lạ thường. Những chiếc ly pha lê cụng vào nhau lách cách. Bữa tiệc ly đại lễ của 7 kẻ sĩ chan hòa niềm tin sâu kín. Đi lại quanh chiếc bàn nhỏ, dáng vẻ bốn chồn, người phụ nữ đứng bên cạnh người đàn ông tròn trĩnh có vẻ như đang chủ tọa buổi tiệc ly; bà xoay qua nhìn mọi người, đôi mắt rớm lệ.

- Suốt đêm qua em cầu nguyện cho anh. Xin Chúa ban hồng ân, xin Trời Phật ban phước lành cho các anh.

Không ngăn được xúc động, tay nắm chặt tay người phụ nữ, tay San giơ ly rượu đỏ lên cao:

- Thưa các anh, xin nâng ly mừng “cách mạng”! Tình yêu sẽ cho chúng ta sức mạnh, tình yêu sẽ giữ lại cho chúng ta tất cả. Tình yêu chắc chắn sẽ thắng mọi dối gian.

Bẩy cánh tay giơ cao, những chiếc ly pha lê sóng sánh mầu đỏ dị thường một lần nữa cụng vào nhau lách cách. Tiếng thủy tinh từa tựa như tiếng nòng súng khô khốc lên đạn.

 

7.

 

Một buổi chiều khá đẹp trời không một bóng mây gợn trên nóc Vương cung Thánh đường Sàigon, chiều vàng hắt nắng trên ngọn những hàng me, hàng sao nghiêm thẳng như những chàng dũng sĩ canh gác cho con chiên đến giờ cầu nguyện. Bên kia đường sở Bưu Điện tấp nập người qua lại gởi thư, lác đác vài người ký giả nước ngoài đến gởi điện thư tin tức. Trông ai cũng có vẻ tất bật, vội vã.

 

Từ các con đường khác nhau tiến về điểm hẹn M. Họ gồm có luật sư San Trần, luật sư Thiệp Triệu, luật sư Giao Nguyễn, luật sư Anh Nguyễn, thủ lãnh Dung Vũ, bác sĩ Tâm Phạm, nhà báo Vị Huỳnh, kiến trúc sư Điệp Nguyễn, giáo sư Trung Hà, luật sư Doãn Nguyễn, luật sư Tân Trần, luật sư Cương Vũ … mấy sinh viên theo phụ giúp. Họ bí mật bố trí cái máy phóng thanh dấu trong gốc cây bên kia đường cạnh nhà thờ. Cố làm ra vẻ bình thản như những người đi dự thánh lễ chiều, nhưng đối San thì tiếp tục quan sát số người ngoại quốc ra vào Bưu điện. Đó là các phóng viên quốc tế. San rất cần những người đó. San không cần biết, sau lưng, trước mặt, bên hông San, những khuôn mặt lạnh lùng mặc thưòng phục, âm thầm theo dõi. Vòng vây vô hình từ từ khép chặt.

 

Tiếng nói sè sè rất nhỏ từ cái máy truyền tin cầm tay từ cửa sổ trên một cao ốc gần đó.

- Các đồng chí nhận diện rõ từng tên chưa?

- Báo cáo, rõ.

- Tuyệt đối không để sổng một tên nào. 

- Báo cáo, rõ.

 

San giơ tay xem đồng hồ, đúng giờ G. San bước vội đến gốc cây sao, vơ cái máy phóng thanh dấu trong đó chạy vội đến trước cửa nhà thờ Đức Bà, San thu hết sức lực:

- “Kính thưa đồng bào! Kính thưa đồng bào! đây là Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Kẻ Khốn Cùng. Chúng tôi, những người Việt Nam khốn cùng muốn thưa chuyện cùng đồng bào …”

- “Kính thưa đồng bào! Kính thưa đồng bào, đây là Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Kẻ Khốn Cùng, chúng tôi, những người Việt Nam khốn cùng, với tàn lực còn lại, với tinh thần tàn phế, quyết đấu tranh bằng con đường bất bạo động để kêu gọi lương tâm nhân loại. Các lực lượng của thế giới văn minh, hãy lắng nghe những lời cầu cứu thảm thiết của những kẻ hấp hối…”

- “Kính thưa đồng bào, đây là Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Kẻ Khốn Cùng. Những ai tụng kinh hãy ngừng lại. Những ai đang nghiên cứu trong tháp ngà hãy tung cửa ra. Những ai đang sáng tác với ngòi bút, hãy bẻ gãy nó đi. Tất cả hướng về Việt Nam. Nơi mà chùa và nhà thờ bị biến thành hội trường để tuyên truyền chính trị - nơi mà các định luật khoa học bị bóp méo để thoả mãn chủ nghĩa - nơi mà các nghệ sĩ chỉ còn một việc duy nhất là tung hô Nhà Nước theo lệnh của Đảng.” (1)

 

Dõng dạc ba lần tuyên đọc Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Kẻ Khốn Cùng trước cửa nhà thờ Đức Bà Sàigon, bên cạnh các chiến sĩ nhân quyền; vòng vây không để cho San nói nữa. Những khuôn mặt lạ ở đâu bỗng vụt ra nhanh chóng, những người đàn ông

 

lực lưỡng ẩn nấp từ lúc nào sau bức tường đá nhà thờ phóng ra như chớp, ập tới San, quật San té xấp. Cái loa văng ra. Không gian Đức Bà ào ào chuyển động, từ tứ phía họ lao tới tấp, cứ hai quật một, súng lục K59 dí sát vào màng tang người bị quật ngã.

- Bịt miệng nó lại!

- Trói nó lại! 

- Cướp ngay cái loa!

- Không để thằng nào thoát!

“Lưới” hành động chớp nhoáng, đúng lúc, rất đúng giờ G. Không ai thoát. Không một con chim nhân quyền nào thoát lưới. Trên góc lầu cao nhìn bao quát hiện trường, viên tướng tình báo đích thân cầm máy truyền tin điều động cuộc tập kích, mồm nói liên tục.

- Lôi tất cả chúng nó lên xe! Không để thằng nào chạy thoát!

 

Một cái xe Molotova bít bùng từ tàn cây công viên thắng két trước tượng Đức Bà, trên xe nhẩy xuống hai vệ binh cầm AK47 chĩa ngay vào nhóm người bị trói, cứ hai lôi một, tất cả dồn lên xe, rất êm thấm, rất nhanh tấm vải bố phủ xuống kín mít.

Mọi động tác quật, bắt, trói chỉ trong vòng mươi phút; thế nhưng còn cái máy cát xét? Nó ở đâu, nó vẫn oang oang dưới hốc cây sao kín đáo bên kia đường:

- “Kính thưa đồng bào, chúng tôi, những người Việt Nam khốn cùng… Kính thưa đồng bào, chúng tôi, những người Việt Nam khốn cùng …Chúng tôi đấu tranh để trả lại nụ cười cho trẻ thơ… Chúng tôi đấu tranh để giành lại sự ấm cúng…, Chúng tôi những người Việt Nam khốn cùng…(1)

Viên công an chỉ huy hét to:

- Tìm cho ra cái máy!

Nó vẫn oang oang. Nó vẫn nhắc đi nhắc lại. Cuối cùng thì nó cũng bị lôi ra trong tay viên công an thường phục. Loay loay một lúc, anh ta mới bịt miệng nó lại được.

 

Chiếc molotova bít bùng rú ga xa dần tượng Đức Mẹ. Mẹ Maria yên lặng dõi đôi mắt hiền từ nhìn những đứa con “phản nghịch”. Những đứa con chưa bao giờ tốt nghiệp trường phản gián. Những đứa con không bao giờ ngờ được ngày N, địa điểm M, giờ G, đã lộ bài từ trong trứng nước. Nước mắt của Mẹ, của chị, của em, nghẹn ngào run rẩy dưới gốc những hàng Me, hàng Sao, góc phố, những khuôn mặt tái xanh lẩy bẩy, hãi hùng chứng kiến, giữa thanh thiên bạch nhật, chồng họ, con họ, anh họ, em họ, ưỡn thẳng lưng, mắt nhìn thẳng vào họng súng đen ngòm. Tiếng súng lên đạn lách cách như tiếng pha lê vang đỏ dị thường. Không có một phóng viên ngoại quốc nào chụp được cảnh này.

 

Một bóng người đội mũ xùm xụp từ trong cửa nhà thờ bước ra, mặt đờ đẫn, đôi mắt láo liên. Một viên công an chìm tay cầm máy truyền tin tiến lại ghé tai nói nhỏ:

- Thủ trưởng lệnh đồng chí đi theo chúng nó về A.

Đôi mắt của người đàn ông đội mũ xùm xụp xụp hẳn xuống. Lệnh ban ra: tiếp tục bám theo bọn “phản động” vào tận trong tù.

Đó là một buổi chiều ngày 23 tháng Tư năm 1977. Chỉ còn 7 ngày nữa là đúng hai năm cái gọi là “ngày giải phóng miền Nam”, Uỷ ban Quân quản Cách mạng đang chuẩn bị lễ đài to lớn đón đồng chí Tổng bí thư vào thăm thành phố mang tên bác.

 

8.

 

 

Cả nhóm ngụ ở Tổng nha cảnh sát cũ mấy ngày, không ai gặp ai. Tất cả đều được chụp hình, lăn tay. Họ được đối xử khá tốt, cho ăn hai bữa. Tuyệt đối không ai gặp ai. San phân vân không biết có anh em nào thoát.

Khuya đến, công an gọi cả nhóm ra sân điểm danh, xếp hàng, chuẩn bị … lên xe. Lúc ấy San mới biết cả nhóm bị tóm hết. Như ong vỡ tổ, cả bọn nhao nhao. San nhẩm điểm danh từng người, đủ mặt anh hào.

Hai viên công an lùa cả bọn lên xe molotova bít bùng. Đường phố Sàigon vắng tanh không bóng người, bóng xe. Chiếc molotova chạy thật lâu, cả tiếng sau đỗ xịch lại. Hai viên công an ngồi sau mở bạt nhảy xuống:

- Tất cả các ông xuống xe, xếp hàng một!

- Chú ý, điểm danh!

- San Trần có không?

- Có!

- Thiệp Triệu có không?

- Có!

- Hữu Giao có không?

- Có!

Dưới ánh sáng mờ nhạt của ngọn đèn giữa khoảng sân rộng, San nhìn quanh thấy dẫy nhà thâm thấp xầm xập bí mật trong bóng đêm.

Một viên công an khá cao lớn tay lủng lẳng xâu chìa khóa kêu leng keng lên tiếng:

- Các ông theo tôi!

Cánh cửa sắt mở ra, lần lượt cả bọn chui vào. Mùi hôi hám ngột ngạt đến rợn người trong bóng tối lờ mờ. San mò được cái bật lửa trong túi. Đám người đang nằm ngồi nhổm dậy. trong ánh lửa lờ mờ, những khuôn mặt không nhìn ra mặt, chỉ thấy những đôi mắt chăm chăm nhìn toán người mới đến. Có kẻ bật lên tiếng nói ồm ồm:

- Chào mừng quí bạn mới đến! 

- Đây là đâu vậy các anh? Nhóm San nhao nhao hỏi.

- Số 4 Phan Đăng Lưu.

- Số 4 Phan Đăng Lưu là số gì vậy toa?

- Là số tới số đó cha nội.

- Ê! ở đâu tới vậy?

- Ở tổng nha.

- May phước cho mấy cha. Trời còn thương mấy cha. Chắc có quý nhơn phù hộ. Nếu còn ở tổng nha thì mấy cha tới số.

- Sao vậy?

- Từ từ rồi biết.

- Nói cho biết.

- Trời ơi! Đ.M, ở tổng nha thì trước sau gì cũng đi thăm liên khu tư, dzùng năm chiến thuật, còn dzìa đây thì Sàigòn đẹp nhứt mang tên bác Hồ! Đ.M. Lính mới tò te hỏi nhiều quá. Từ từ rồi biết.

 

9.

 

Trời tờ mờ sáng, loảng xoảng chùm chìa khóa mở cánh cửa nặng nề, lại giọng nói oang oang đêm qua:

- Các anh mới tới ra sân xếp hàng điểm danh.

 

…- San Trần có không?

- Có!

- Thiệp Triệu có không?

- Có!

- Doãn Nguyễn, Điệp Nguyễn có không?

- Có!

- …

- Tất cả xếp hàng một tập trung theo tôi lên “hội trường”.

Họ lục đục kéo nhau hàng một. San đi đầu, ngẩng cao nhìn quanh quất.

 

Một người đàn ông tướng cao lớn, bộ dáng “oai” như một “thủ trưởng”. Trong cánh sơ mi bỏ ngoài quần, giản dị, ông ta đứng một mình, sát vách tường phía trên “hội trường”. Dường như ông đang đợi nhóm phạm nhân nhân quyền. “Hội trường” không to lắm, thật ra chỉ là một căn phòng khá rộng, hai ngọn đèn vàng lơ lửng trên trần. Một cái bàn nhỏ, một cái ghế trống kế bên ông cao lớn. Cả nhóm được cán bộ dẫn vào xếp hàng ngang đứng nghiêm trước mặt. Mấy phút yên lặng trôi qua. Dường như ông cao lớn đang chìm đắm trong suy tư dù mắt chăm chăm nhìn đám tù mới.

- Báo cáo thủ trưởng, tất cả đầy đủ. Viên công an đứng gần đó lên tiếng nhắc nhỏ.

- Được, tốt lắm!

 “Thủ trưởng” vẫn đứng bên cái ghế, ông không ngồi, tay ông vỗ vỗ vài cái trên mặt bàn. Một lúc, ông lên tiếng:

- Chào các anh.

- Các anh là nhóm nhân quyền? Người đàn ông cao lớn cao giọng hơn một chút, giọng đặc sệt miền Bắc, giọng Hà Nội.

Không thấy ai trả lời. Im lặng nín thở. “Thủ trưởng” tiếp:

- Hôm nay là buổi học tập đầu tiên cho các anh. Các anh về đây là tốt lắm. Các đồng chí phụ trách sẽ lo cơm nước đầy đủ cho các anh, các anh nên chấp hành tốt nội qui của trại?

Im lặng nín thở.

- Các anh ở đây phải tuân theo kỷ luật trại, chủ yếu là mỗi người phải thành thật khai báo, chính sách khoan hồng của cách mạng là do sự thành thật khai báo của các anh.

- Các anh có nghe rõ không?

Im lặng nín thở. Ông cao lớn giọng hơi gắt.

- Các anh đừng tưởng cách mạng không biết. Chúng tôi biết rất rõ đường đi nước bước của các anh. Tri nan hành dị. Nhân quyền với Chính phủ lưu vong. Ông tiếp tục cao giọng:

 - Cách mạng không thèm bắt chim bằng ná, cách mạng bắt chim bằng lưới, cách mạng hiểu các anh vì sống trong lòng địch, chưa thông hiểu đường lối cách mạng, chủ trương cách mạng cho nên các anh bị lôi cuốn theo những kẻ phản động chống phá cách mạng. Tôi tin rằng các anh sẽ được học tập tốt để thông hiểu chính sách của cách mạng.

Im lặng nín thở.

- Thôi! Cho các anh ra về.

Viên công an cán bộ dẫn cả nhóm im lặng ra về ….

- Về đâu vậy thưa cán bộ? Một anh tù nhân quyền nhanh nhẩu hỏi viên công an.

 

 

- Về chỗ này chứ còn chỗ nào. Tiếng người cán bộ lạnh như tiền. Tiếng khóa mở cửa, tiếng xích sắt kêu leng keng.

Cả bọn lại lục tục kéo nhau vào căn phòng ua ám đêm qua. Mùi hơi người hừng hực nồng nặc, chẳng bù với lúc nãy ngoài sân khí trời rời rợi.

- Ê! Trần! Tay vừa rồi là tay nào mà “oai” vậy “toa”?

- Nhìn mặt mà không biết à! Thọ chứ ai. 

- Thọ à! Có phải là tướng trùm công an Việt Cộng không?

- Chứ còn ai vào đây nữa!

- Trông lũy “sang” nhỉ, cao lớn như “tây”. Tướng mà sao chẳng thấy thằng “escort” nào vậy?

- Thế mới là cách mạng. Cứ như các ông, đi đâu, cả bầy vệ sĩ trang bị đến tận răng.

- Ê! San, “ông tây” nào vậy “toa”?

- Tây cách mạng.

Cả bọn nhao nhao bây giờ mới biết, đây là số 4 Phan Đăng Lưu. Con số 4 - nhà nổi tiếng về trung tâm thẩm vấn tù chính trị. Nó chẳng cách nhà thờ Đức Bà bao xa.

San không dè nhóm của họ “quan trọng” đến thế, tướng trùm công an Việt Cộng thân hành đến “thăm”. Những cựu tù “lên lớp” bài học ăn ở nhà số 4 cho cả nhóm. Quan trọng nhất là chu vi “an thân”. Bề ngang đúng một thước không hơn không kém. Không ai được phép lấn ai. Trưởng phòng tù, ngoài đời là một họa sĩ vui vẻ ra mặt khi gặp từng người trong nhóm. Có thêm các ông vui quá!

 

10. 

 

Bốn mắt nhìn nhau. Viên chấp pháp im lặng quan sát San. San là nguời đầu tiên trong nhóm được “mời” lên làm việc. Mặt lạnh như tiền, viên chấp pháp mở đầu:

- Anh là thủ lĩnh của nhóm?

- Không! Tôi cũng như anh em.

- Anh nên thành thật khai báo, ngay cả bài viết tuyên ngôn tuyên nghiếc gì đó của anh chúng tôi đã có đầy đủ trong tay. Viên chấp pháp hất hàm ra hiệu cho viên công an kế bên.

Tay này bước ra cửa phòng phía sau dẫn vào một người đàn ông trung niên, hơi thấp trông gầy gò đội nón xùm xụp, dáng dấp sợ sệt.

- Ủûa! Tại sao anh vào đây? San bật giọng hỏi khi nhìn thấy người này, mặt đỏ bừng pha lẫn ngạc nhiên cực độ. Nguyễn là một trong những người bạn thân lăn lóc ngoài chợ trời, là một trong những người hăng say bàn bạc bên ghế cà phê.

- Tôi nhận được giấy tống đạt của Trung tâm Thẩm vấn số 4 Phan Đăng Lưu. Nguyễn trả lời, mặt chưa dấu được nét xanh xao.

- Họ gọi toa lên thẩm vấn à! Thế họ hỏi những gì?

- Họ hỏi về những sự liên hệ giữa tôi và các anh. Anh biết, tôi chẳng làm gì hết, tôi là bạn các anh, tôi chỉ lo cơm áo cho vợ con. Họ biết tôi là bạn các anh, họ gọi lên đây.

Nguyễn lên đây để đối chất hay để nhìn mặt? San bất ngờ cao giọng, nói như hét với viên chấp pháp:

- Đúng, chính tôi! Chính tôi viết ra bản tuyên ngôn. Không có ai ngoài tôi!

- Thôi được! Cho anh này ra. Viên công an dẫn Nguyễn ra sau cửa phòng.

- Cách mạng đã giải phóng thống nhất đất nước rồi, các anh còn tranh với đấu làm gì?

- Vì sao chúng tôi tranh đấu các anh biết không? Vì các anh đấy!

 

San càng nói càng hăng. Mặt đỏ tía tai.

- Chúng tôi tranh đấu cũng không chỉ vì các anh đâu. Chúng tôi tranh đấu vì đảng cộng sản đã phản bội lại cộng sản!

- Nếu anh còn to mồm thì tôi sẽ cho cán bộ làm việc.

- Tôi đếch sợ! Đả đảo cộng sản!

Viên chấp pháp hất hàm ra lệnh cho viên công an kế bên.

Bịch, bịch, bịch … San ôm bụng gục xuống lăn ra trên nền xi măng.

 

11.

 

Cách “hội trường” hơn chục thước là dẫy nhà nhỏ xây tường vôi vàng khè có những lỗ vuông thông hơi, mái tôn lè tè thấp. Dẫy nhà nằm giữa một khoảng sân trống. Xa xa dẫy tường gạch bao bọc ngăn cách bên ngoài. Gọi là dẫy nhà không đúng. Đó là dẫy xà lim. Trông nó toát lên vẻ im lìm, lạ lùng, bí ẩn. Xà lim có nhiều căn. Mỗi căn có một khung cửa kín mít hở song sắt bên trên, dường như để cho có ít không khí lọt vào. Đứng bên ngoài nhìn vào có thể quan sát hết căn phòng, nhưng người bên trong không thấy được bên ngoài vì nền thấp hơn. Xà lim nhốt nhóm nhân quyền chỉ là một trong nhiều dẫy xà lim khác trong một khu đất lớn bên cạnh tòa tỉnh trưởng Gia Định cũ. Có lẽ xà lim nhân quyền gần “hội trường” nên được gọi là khu A. Căn xà lim khá lớn là nơi trú ngụ của nhóm 17 người cùng với một số tù nhân chính trị khác.

 

Đã có nhiều nhà văn nhà báo viết về dẫy nhà đặc biệt này. Quá khứ số 4 Phan Đăng Lưu là cả một kho sử liệu tù tội. Viết về những người “sống” trong đó. Đủ hạng. Hạng xuất thân thời nam bộ kháng chiến có, hạng đệ tam có, đệ tứ có, quốc gia có, chiêu hồi có, hình sự có. Lại có cả ma, ma sống. Ma thường xuất hiện vào ban đêm, khi cánh cửa sắt mở, ma sống đầu bù tóc rối khật khà khật khừ bước ra trong đêm tối, xích sắt dưới chân kêu loảng xoảng. Lúc ấy là lúc ma được mời lên làm việc, chấp cung.

 

Xà lim được tù gọi là “cát xô”. Những người tù từng “sống” trong cát xô phân biệt cát xô 1, cát sô 2, 3, 4, 5, v,v… Số cát xô thích hợp tùy đối tượng nhập vào. Cát xô hình sự. Cát xô chính trị. Cát xô đàn bà. Cát xô chính trị là cát xô được cán bộ quan tâm sâu sắc!

Tù nhân thường trú kỳ cựu ở đây truyền nhau nói rằng số 4 Phan Đăng Lưu chỉ là chỗ tạm, chờ “chấp cung thẩm vấn” xong là đi. Nhưng có nhiều tù “chấp cung” cả năm trời vẫn chưa đi. Nếu khai báo thành thật tốt, tù sẽ được “mời” về chỗ an nghỉ mới đàng hoàng hơn, chính thức hơn, dĩ nhiên lâu dài hơn. Tù “ngoan ngoãn” hầu như được về “an cư” ở khám Chí Hòa. Tù “ngoan cố” được mời về chốn mịt mù xa lắc, nổi tiếng hung tợn. Tù “ngoan cố” thì người không ra người mặt không ra mặt kèm theo chân xích tay còng về chuồng biệt giam. 

 

Cả nước không ai không nghe danh tiếng số 4 Phan Đăng Lưu. Đặc điểm của số 4 là nơi quy tụ những thẩm vấn gia tài năng xuất chúng; đặc điểm thứ hai ở số 4 là không đánh đập; chỉ riêng cát xô hình sự can tội cướp của giết người thì có ăn đòn. Tù chính trị được thẩm vấn rất “tử tế”, văn minh, khoa học, công an chấp pháp có trình độ lý luận cao. Nhiều chấp pháp nói giỏi cả tiếng Anh, Pháp. Đặc điểm kế tiếp của số 4 là có căn phòng biệt giam được chế từ công ten nơ của Mỹ để lại. Trong công ten nơ có xiềng khóa chân xiềng khóa tay. Nhưng xiềng không đáng sợ bởi cái nóng. Cái nóng Sàigon không còn là

 

cái thời của “nắng Sàigon em đi mà chợt mát! Đó là cái lò thiêu sống công ten nơ. Đặc điểm tù biệt giam trong công ten nơ, cán bộ không bao giờ cho tù chết nóng, chết đói; nhưng đói, khát và nóng như điên khiến bộ óc “ngoan cố” của tù dần dần mục rữa, khiến trái tim của tù dần dần nguội lạnh, cho đến khi nào tù chỉ còn là bộ xương nhúc nhích, biết đầu hàng thì mới được ra. Vậy mà vẫn có vô số tù kiên gan không chịu đầu hàng. Trong số ấy có Trần Danh San, người tù nhân quyền “nổi tiếng” gan lì nhất ở số 4 Phan Đăng Lưu.

Hầu như những nhân vật được mời về “cư ngụ” ở cát xô chính trị Phan Đăng Lưu đều dính líu tới chính trị, tôn giáo, dân quyền, quan quyền, trí thức khoa bảng, nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà tình báo, kể cả Tăng sĩ, Sư cô, Linh mục, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Tiến sĩ, Lý thuyết gia, Giáo sư, Dân biểu, v v… anh hào miền Nam thường có dịp nếm mùi số 4 Phan Đăng Lưu.

 

12.

 

- Tất cả các ông nhân quyền ra sân xếp hàng, điểm danh, chờ lệnh. Tiếng người quản giáo rổn rảng như lệnh vỡ tiếp tục:

- Gớm, nhân với quyền, San Trần có không?

- Có!

- Thiệp Triệu có không?

- Có!

- Doãn Nguyễn, Điệp Nguyễn có không? 

- Có!

- …

Cả nhóm theo chân viên cán bộ bước về “hội trường” đứng hàng ngang nghiêm chỉnh hướng về ông cao lớn.

- Chào các anh. Vẫn người đàn ông cao lớn như tây đứng cạnh cái bàn nhỏ.

- Mấy ngày qua các anh đã suy nghĩ về việc làm của các anh chưa? Ông “tây” hỏi nhưng nói tiếp:

- Các anh viết bản tự khai chưa đầy đủ … chúng tôi đã đọc từng người. Các anh đừng tưởng chúng tôi ngây thơ! Chúng tôi không ngây thơ như các anh tưởng. Các anh đừng tưởng rằng luật sư trí thức ăn học ở Tây về mà lừa được chúng tôi. Xịa và Tây nó hà hơi tiếp sức cho các anh. Tự nhiên làm gì có chuyện ở Nga có bọn Sakharov, ở Tiệp có bọn Havel, ở Ba Lan có bọn Walesa, ở Việt Nam ta có bọn các anh. Xịa Tây nó hà hơi tiếp sức cho các anh phải không?

Im lặng như băng đá.

- Các anh có ý kiến gì không?

Im lặng như băng đá.

- Thôi! Cho các anh về chỗ.

Nhóm 17 người lại lục tục kéo nhau về chỗ cát xô.

- Ê! San! Xịa nó hà hơi tiếp sức cho toa hồi nào vậy? Một anh tù hỏi nhỏ.

Vắt tay lên trán, San khe khẽ nói với Thiệp nằm kế bên: bỏ mẹ rồi Thiệp ơi! Nó đồng hóa mình như Nga Tiệp Ba Lan, lại được xịa tây móc nối. Hai năm “phỏng giái” đói rã họng có thấy thằng xịa thằng tâyc nào đâu. Thiệp ầm à ầm ừ chẳng nói chẳng rằng, xoay lưng lại thò tay xuống háng mò bắt bọn rệp đang dự tiệc trong giái.

 

 

13.

 

Ngày hôm sau, quản giáo gọi từng người lên phòng chấp pháp làm việc. Gọi đến San, vừa bước ra khỏi cửa cát xô, San vươn vai: đả đảo cộng sản! Ngay tức thì, hai ông to lớn túm lấy San thụi, thụi túi bụi, thụi vào mặt vào mày. Đả đảo cộng sản! Hai ông to lớn lại tiếp tục thụi, hoàn toàn yên lặng thụi. Tiếng ối của San nhỏ dần rồi tắt lịm.

Thụi là là đặc điểm của cách mạng. Cách mạng rõ khác công an quốc gia, khác hẳn ngụy, ngụy vừa đánh vừa chửi thề hút thuốc đập bàn đập ghế. Cách mạng cứ yên lặng thụi. Bịch… bịch… bịch. Máu mắt máu mũi San phụt ra. Thụi liên tục trước mắt những nhà nhân quyền. Những nhà nhân quyền trố mắt ra nhìn.

- Ơ kià, cán bộ sao lại đánh người! Cách mạng đâu có đánh người!

- Chửi là đánh!

- Chúng tôi có chống phá cách mạng đâu. Chúng tôi chỉ đòi cơm áo cho nông dân, cho công nhân, chúng tôi chỉ đòi suy nghĩ.

- Chửi là ông đánh. Ông đánh cho chừa chửi. Ai cho các anh đòi. Ai cho các anh tư với tưởng. Các anh đã làm gì cho cách mạng mà đòi?

- Đánh, thằng này còn đả đảo, còn đánh, còn chửi, còn đánh. Nhân với quyền! Chính với phủ. Bịch… bịch… bịch…

Mặït San đầy máu, máu giỏ từng giọt xuống áo, máu giỏ từng giọt xuống sân số 4 Phan Đăng Lưu, đặc quánh. Mở cửa cát xô, hai viên công an xô San chúi nhủi vào trong như xô một con vật.

San gục xuống như trái sung. Thân San vốn tròn trịa, gục xuống y như trái mít chín nhừ. Đám tù lật đật khiêng San vào chỗ nằm thay nhau xát nước muối lên cái xác bất động. Viên cán bộ quản giáo gọi đám tù khác ra lấy nước chùi rửa sạch sẽ vũng máu loang lổ trên sân số 4 Phan Đăng Lưu.

 

Vài hôm sau, San tỉnh lại, nhướng mắt nhìn bạn tù bu quanh nhếch mép cười: moa phản cung thằng tướng, moa chửi đảng chúng nó, nó trả thù moa, nó đánh moa trước mắt các toa để dằn mặt, các toa biết không, moa chơi cách mạng một quả nặng, nhưng nó có biết đâu, cách mạng đang đàn anh quốc tế vô sản chơi một quả còn nặng hơn moa gấp trăm nghìn lần, cả triệu người chết oan vì bọn vô sản. San thì thào tiếp: các toa đừng lo cho moa.

Họa sĩ “truởng phòng” tù Đức Hồ, trưởng phòng này được anh em coi là “xếp cai tù” dễâ thương nhất trong các trưởng phòng khác. “Xếp” họa sĩ bước vào cát xô nói như lệnh:

- Tôi đã nói rồi, cách mạng đã nói với các anh, phải thành thật khai báo! Đức Hồ xuống giọng rất nhanh nói nhỏ: phải nín thở trong tù, nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại, chân lý cho những người ở tù là phải tìm đủ mọi cách để ra tù! Bước đến gần một tù nhân quyền, trưởng phòng nhắc khẽ: còn muối không?

 

14.

 

- Tất cả học viên khu A, B, C tập trung lên hội trường chiều nay lúc 7 giờ. 

Cả trại nhốn nháo. Có chuyện gì vậy? Trưởng phòng tù “cát xô 4” bước vào thông báo:

 

 

 

- Hôm nay mừng ngày lễ lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam, cứ một khu được thưởng một con lợn, hậu cần đang chuẩn bị đón lợn về, hôm nay các anh được ăn thịt lợn tươi, có cả xi nê.

Cả đám tù như được vi ta min tiếp sức, có anh vui ra mặt. Hôm nay có thịt lợn tươi.

Tối đến, tiếng kẻng rúc vào tai, mọi người lục đục tập họp, xếp hàng ngay ngắn ở ngoài sân xi măng. Cả trăm tù ngồi ngay ngắn. Chiều tối dần. Vài chú bộ đội trẻ đi qua đi lại trông có vẻ bận rộn.

Giữa sân đã căng sẵn tấm vải màn trắng vuông, phía trước là cái bàn nhỏ và một cái ghế. Ở một góc khác treo trên cao vách tường hàng chữ đỏ: “Chủ Tịch Hồ Chí Minh Sống Mãi Trong Sự Nghiệp Của Chúng Ta”, “Chủ Nghiã Mác Lê Nin Bách Chiến Bách Thắng”.

- Tất cả đứng nghiêm! Viên quản giáo hô to.

- Hôm nay các anh được đoàn lãnh đạo Miền đến thăm. Tất cả mọi người đều phải yên lặng chú ý nghe. Hôm nay các anh đã được ăn mừng ngày lễ Quân đội Nhân dân Việt Nam, bây giờ sau khi nghe lãnh đạo nói chuyện, các anh sẽ được coi phim: “Điện Biên Phủ chiến thắng vĩ đại của nhân dân ta”.

 

Một người đàn ông khá trắng trẻo, gương mặt lộ vẻ trí thức sau cặp mắt kiếng trắng, bộ áo quần đồng phục mầu ô liu thẳng nếp, chân đi giầy đen, bước nhanh từ phòng chấp cung tiến đến cái bàn nhỏ, theo sau là hai phụ nữ, một đẫy đà, một nhỏ nhắn, cả hai đều mặc bộ bà ba đen khăn rằn quấn cổ, chân trần dép lốp, họ rất gọn gàng. Hai phụ nữ toát ra cái dáng dấp nhanh nhẹn của người phụ nữ miền Nam, gương mặt bình dị. Người đàn ông “trí thức” đeo kính trắng đứng giữa bàn giơ hai tay nửa chào nửa như ra hiệu, giọng miền Nam:

- Các anh ngồi cho thoải mái. Ông kính trắng nói tiếp:

- Chúng tôi được Quân uỷ Miền cho phép đến đây gặp các anh nhân dịp lễ kỷ niệm ngày thành lập QĐNDVN. Bộ dội giải phóng là một quân đội anh hùng đánh thắng tất cả bọn xâm lược giầy xéo đất nước chúng ta. Im lặng một lúc.

- Các anh hầu hết là trí thức Sàigòn cũ?

Im lặng như tờ.

- Chủ trương của cách mạng là tạo điều kiện cho các anh trở thành công dân tốt trong xã hội mới. Các anh học tập tốt sẽ được trở về với gia đình.

Im lặng như tờ.

- Trong cuộc chiến này không có kẻ thắng người thua! Chỉ có đế quốc Mỹ là thua. Tổ quốc là trên hết. Chúng ta đều là người Việt Nam … Lát nữa đây các anh sẽ được coi phim, các anh sẽ hiểu cuộc chiến đấu của cách mạng.

 

15.

 

Hết giờ coi phim cả bọn kéo nhau về cát xô vắt tay lên trán xầm xì.

- Ê! San, tay đeo kiếng trắng là tay nào trông có vẻ trí thức vậy toa?

- Trông người mà không biết à! Trà chứ ai.

- Trà Mặt trận đấy hả?

- Thế còn hai bà?

- Bình, Định chứ ai vào đây nữa.

- Lạ nhỉ!

- Tay này ăn nói lạ nhỉ!

 

- Thế toa không nghe “cuốc ca” của cục rờ khác lạ với “cuốc ca” thề phanh thây uống máu quân thù à!

 

Bóng viên quản giáo chõ mồm vào khe cửa ồm ồm:

- San Trần lên phòng chấp pháp! 

Cả nhóm nhân quyền nhốn nháo. Ê! Đừng đả đảo nữa nghe toa, nó đánh đấy. San bật dậy, vươn vai: “đả đảo Hồ Chí Minh”.

- Các ông muốn gì nữa đây. Tôi đã nói hết rồi. San sẵng giọng trước viên chấp pháp, bên cạnh là ông tây cao lớn.

- Cách mạng thành công, Mỹ cút, ngụy nhào, nước nhà độc lập tự do thống nhất rồi, các anh còn nhân với quyền với ai nữa, đấu với tranh gì nữa? Ông cao lớn như tây nói giọng ôn tồn.

- Các ông hoàn toàn sai lầm, các ông đầy đọa cả nước lầm than.

- Nước ta mới giành được độc lập, thống nhất từ tay đế quốc và tay sai, còn bao nhiêu là khó khăn chồng chất, kẻ thù, bọn phản động vẫn tiếp tục điên cuồng chống phá thành quả cách mạng.

Ông tướng tỏ ra kiên nhẫn chấp cung, lần nào ông cũng ân cần rút bao thuốc Tam Đảo trong túi ra mời San.

- Chúng ta đều là người Việt Nam. Ông tướng nói nhỏ.

Hút một hơi dài, San hạ giọng: 

- Thưa ông, tôi cũng là người Việt Nam. Tại sao ông bỏ tù chúng tôi?

- Các anh nên hợp tác với cách mạng.

- Thưa ông, các ông đã sai lầm lớn. Nếu chúng tôi không nói lên, các ông tiếp tục sai lầm, tiếp tục đi trên con đường mạo hiểm, nguy hiểm. Vì sao chúng tôi tranh đấu các ông biết không? Giai đoạn các ông đi làm cách mạng thống nhất đất nước, đúng! nhưng khi các ông đưa dân tộc này đi vào con đường cộng sản rập theo kiểu mác lê mao thì các ông đã đưa dân tộc này xuống vực thẳm, chủ nghĩa cộng sản không phải là chủ nghĩa Việt Nam, chuyên chính vô sản của các ông có phải là chính sách nhân hộ khẩu vô nhân đạo, lùa dân đi vào rừng thiêng nước độc, cải tạo công thương nghiệp là cái gì vậy? Xóa sổ tài sản làm ra từ mồ hôi nước mắt của đồng bào, tịch thu trắng trợn mọi nhà cửa, tài sản, tiêu diệt một xã hội được xây dựng trên sự hiền lành và đùm bọc của một dân tộc có hàng ngàn văn hiến … các ông có thể xóa sổ giai cấp bóc lột, xóa sổ bọn thực dân đè đầu cưỡi cổ đồng bào … đồng ý! Nhưng Việt Nam ta làm gì có giai cấp bóc lột. Tống cổ bọn tư bản đi, đồng ý! Người Việt Nam ta làm gì có tư bản. Các ông có thể thủ tiêu văn hóa độc trị nhưng các ông không thể thủ tiêu tinh thần yêu nước để thay thế vào đó một thứ nhãn hiệu yêu nước tức là yêu xã hội chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa là cái quái gì? là cai trị bằng cách bịt miệng tiếng nói của lương tâm à! bằng chính sách tổ dân phố à! tổ dân phố của các ông là cái quái gì vậy? là công an nhân dân tố khổ lẫn nhau, tố cáo lẫn nhau, nghi ngờ lẫn nhau, đe dọa lẫn nhau, các ông cai trị bằng cách gieo rắc cái ác cái sợ tràn lan trong dân chúng … Thưa ông, chúng tôi tranh đấu không cho chúng tôi, chúng tôi tranh đấu cho chính các ông đấy… tôi nói thẳng ra rằng các ông đã phản bội cách mạng, phản bội lý tưởng yêu nước!

- Phản bội? Phản bội cái gì? Ông tướng quắc mắt quát to dữ dội. Các anh nói chúng tôi phản bội hay chính các anh đã phản bội, các anh đã phản bội ngay dưới lá cờ của các anh! các anh đã phản bội ngay chính quê hương của các anh, rước voi về dầy mả tổ, các anh khoe là tự do hay thực ra là nô lệ đế quốc, các anh tự do hưởng thụ trong lúc nhân

 

dân đổ máu giành độc lập, thống nhất nước nhà, các anh an toàn ở hậu phương trong lúc chiến sĩ đổ xương đổ máu để bảo vệ để… để bảo vệ cho chính các anh, những kẻ nô lệ? nô lệ đế quốc, nô lệ chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, các anh chỉ nghĩ đến cá nhân các anh mà thôi, chưa bao giờ các anh nghĩ đến nhân dân, chúng tôi không ngạc nhiên khi các anh không nhìn thấy con đường giải phóng của cách mạng, giải phóng quê hương, các anh chỉ muốn an thân đội lốt danh nghĩa hòa bình, hòa giải, thực ra các anh chui rúc trong thành phố mà quan thầy “fún rai” gì đó gọi là … là ổ điếm! Hừ! tôi thông cảm một số các anh có suy tư về đất nước, nhưng sợ gian khổ, sợ giác ngộ, cho nên không bao giờ các anh dám đứng dưới lá cờ cách mạng, chỉ có cách mạng mới dám đứng lên bảo vệ nhân phẩm cho các anh … hừ … những kẻ hèn nhát!

- Thôi được! Tôi đã đọc bản tự khai của anh, anh về viết lại bản tự kiểm cho đầy đủ.

- Theo ông thế nào là đầy đủ?

- Ai xúi dục các anh phản loạn? Lập chính phủ lưu vong?

- Không ai có thể xúi dục chúng tôi.

- Ai đưa tiền cho các anh?

- Các ông thừa biết chuyện đó, tiền ở đâu?

- Ai móc nối các anh?

- Chẳng có ai cả. Chúng tôi là những người Việt Nam chân chính, không theo ai, không nghe lời ai, không nhận tiền của ai, chúng tôi không chống cách mạng, chúng tôi chỉ chống chủ trương và chính sách của đảng, đảng cộng sản không phải là đảng cách mạng, cách mạng Việt Nam không mơ giấc mơ cộng sản chà đạp quyền sống của con người. Các ông đang mơ một giấc mơ nguy hiểm đi ngược lại bản chất của dân tộc.

- Im đi! Ngoan cố! Giọng lưỡi tư sản! Ông tướng quát.

- Thôi … cho anh về! Nét mặt ông tướng dịu hẳn xuống. Khoác tay ra hiệu cho viên sĩ quan chấp pháp, ông tướng bước nhanh ra khỏi căn phòng. Hai người bảo vệ theo liền chân.

Trong phòng chấp pháp chỉ còn lại viên sĩ quan chấp pháp trẻ, đứng như trời trồng chăm chăm nhìn phạm nhân. Cái im lặng băng đá bao trùm khó hiểu. Ra hiệu cho viên quản giáo, viên chấp pháp trẻ đưa San về lại cát xô, trên đường đi hắn hỏi nhỏ:

- Ông có biết ông đó là ai không?

- Tôi biết chứ! Tôi biết ông ta là ai!

Viên sĩ quan chấp pháp trẻ tròn mắt nhìn San.

 

16.

 

Một chiếc “Jin“ nhà binh do Nga chế tạo thắng két giữa sân nhà tù. Bước xuống là một “ông già” tóc lốm đốm bạc. Áo sơ mi xanh nhạt bỏ ngoài, đi giầy đen. Ông ta rảo rất nhanh vào phòng chấp pháp, theo sau là một bảo vệ, trước cửa phòng đã thấy sẵn viên Thượng tá trưởng trại giam đứng nghiêm. Viên Thượng tá nghiêm trang giơ tay chào.

- Báo cáo thủ trưởng. Họ ở dưới phòng số 4.

- Tiêu chuẩn cho họ có đầy đủ không?

- Báo cáo đủ.

 

“Ông già” móc trong túi ra điếu thuốc, tẩn mẩn nửa như muốn đưa lên môi, nửa ngập ngừng. Người bảo vệ khệ nệ bưng hai chiếc ghế bành mây và cái bàn nhỏ vào phòng, đứng im lặng đằng sau. “Ông già” dáng vẻ mệt mỏi ngồi phịch xuống. Suốt đêm qua ông

 

lật từng trang hồ sơ của nhóm tù nhân đặc biệt. Ông đọc đi đọc lại những dòng ghi chép cuộc tranh luận giữa “tội nhân ngoan cố” và ông tướng bên sở công an. Ông nhớ lại cuộc điện đàm hôm qua với hai đồng chí phụ trách trại thẩm vấn:

- Báo cáo thủ trưởng, giọng miền Bắc của viên sĩ quan công an bảo vệ chánh trị; tên này cực kỳ ngoan cố phản động, chắc chắn hắn thuộc tổ chức nước ngoài xúi dục lật đổ chính quyền cách mạng. Mật báo viên của ta cài vào báo cáo đáng lẽ nó tổ chức chống phá đúng vào ngày lễ Ba Mươi Tháng Tư, đúng lúc ta đón mừng đồng chí tổng bí thư vào thăm thành phố Bác, nhưng không hiểu tại sao nó lại làm sớm hơn một tuần. Em có điều tra nhưng nó nhất định không khai.

- Thưa “anh Sáu”, giọng miền Nam lễ phép qua cuộc điện đàm của viên Thượng tá Ba Phận trưởng trại giam. Đám phạm nhân mới này hầu hết đều chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại, trại có chế độ ưu đãi dành cho họ, riêng tên thủ lãnh trước đây là luật sư chế độ cũ, tay này chỉ thích “lý luận” với thủ trưởng bên sở, lại ưa chửi bậy.

 

“Anh Sáu” ngước nhìn qua cửa sổ, trời chiều bỗng tối sập, cơn mưa rào nhiệt đới kéo tới bất ngờ, gió se sắt luồn qua khe ùa vào phòng, hình như cơn gió chẳng thấm tháp gì đối với ông già lộ nét phong sương gân guốc.

“Anh Sáu” có cái phong thái của một kẻ chiến trận dãi dầu mưa nắng, cánh áo sơ mi xanh nhạt bỏ ngoài quần ka ki mầu cứt ngựa, dáng khá cao, khuôn mặt nghiêm khắc, khá đẹp dưới đôi kính trắng, phảng phất nét quắc thước của một người hình như sinh ra chỉ để chỉ huy. 

Đã hai năm “giải phóng”; thời gian trôi nhanh quá, hàng trăm giềng mối vuột ngoài tầm tay, chưa lúc nào ông già cảm thấy hóc búa như lúc này. Hòa bình trở lại với quê hương không dễ dàng như suy tính. Chưa lúc nào cái đầu nặng như chì bằng lúc này. Lời lẽ của người tù cứng đầu, lời lẽ của bản tuyên ngôn nhân quyền và cuộc nổi dậy trước cửa nhà thờ Đức Bà. Cuộc nổi dậy tuy nhỏ nhưng khiến ông già nặng trĩu suy tư. Ông muốn bỏ qua hồ sơ này nhưng cuộc đối thoại bất ngờ khiến ông không rời bản báo cáo. Bản báo cáo sẽ tạo sự mâu thuẫn nguy hiểm ngay trong nội bộ ý hệ đảng. Đối với ông, miếng cơm manh áo của nhân dân hiện nay mới là điều vô cùng nhức nhối. Tay tù nhân nói đúng nhưng thủ trưởng bên sở cũng không sai. Giải quyết cách nào cho hàng triệu người đang đói? Giải quyết cách nào cho chính sách của cách mạng? Ta đang chiến thắng hay ta đang bị cô lập? Liên Xô viện trợ vũ khí. Trung Quốc phong tỏa. Kinh tế ta tự lo lấy. Nông trường, thủy lợi, thực tế không gia tăng sản xuất, chỉ làm khổ đồng bào, khói súng chiến trường tây nam đòi hỏi huy động lớn lực lượng thanh niên miền Nam chưa qua kinh nghiệm chiến trường.

Nhớ tối hôm qua, đứa con gái duy nhất đang sống với ông nhắc nhở sắp tới ngày giỗ của Má nó … Ông không ngờ … Niềm cô đơn từ đâu kéo đến. Bóng dáng người vợ hiền vụt qua trong cơn mưa chiều khiến ông nhắm nghiền đôi mắt.

 

- Báo cáo thủ trưởng… Viên hậu cần xuất hiện trước cửa phòng đứng tần ngần với chiếc áo ngự hàn cũ kỹ khá dầy trên tay. Chiếc áo ngự hàn là kỷ vật duy nhất của người vợ chiến đấu ông không rời nó từ làn sương sớm cho đến khoắt khuya.

- “Qua” không lạnh đâu em. Nếu được, em cho “qua” bình trà nóng với hai cái ly. Nhớ đậm nghen. Giọng miền Nam của ông già ấm áp đầy tình cảm đối với thuộc hạ.

- Rõ! Viên hậu cần nhanh nhẹn lui ra cửa.

 

 

Mưa liên tục, càng lúc càng nặng hạt. Chưa vội ra lịnh cho viên chấp pháp dẫn tù nhân luật sư lên phòng chấp cung. Ông già nhắp chén trà bốc khói nước đầu. Thứ trà này tiếp quản từ kho của một tay tư sản mại bản gốc Hoa ở Chợ Lớn. Hắn đã bỏ chạy ra nước ngoài. Anh em chia nhau mỗi người một ít để dành sáng tối nhâm nhi. Ông cũng gởi một gói cho “anh Ba” ngoài đó, thứ này ảnh mê lắm. Hôm nay ông muốn đãi ngộ viên tù nhân luật sư Sàigòn ngang bướng “có tài có tật”.

Nhắp thêm nước hai, ngả lưng ghế, “ông già” không khỏi thả đầu về quá khứ với bao nhiêu kỷ niệm.

…..

Dư âm buổi liên hoan vẫn còn lưu luyến. Đống lửa rừng chưa kịp dập tắt. Bộ đội trở về lán trại, riêng “ông già” vẫn ngồi vo tròn bên cạnh “bà già”. Đống lửa bập bùng rừng núi sắp tàn rọi lên khuôn mặt “bà già” thoáng nét ửng hồng. Một giây xao xuyến, “ông già” bắt gặp tia mắt lấp lánh trẻ trung của “bà già” hiện ra như ngày nào. Lửa khiến đôi má bà ửng đỏ dưới mái tóc đốm bạc quấn tó gọn gàng. Bả còn đang vui với thằng con trai tuổi đôi mươi oai dũng trong bộ đồ trận mầu lá rừng giải phóng quân. Thằng con đang say sưa ôm cây lục huyền cầm bắt giọng cho đám bộ đội trẻ ngồi lổm nhổm quanh đống lửa:

- “Đêm nay trên đường hành quân…”, một hai ba:

- “Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận, trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác…”; “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng cất tiếng bước…”.

“Bà già” huých cùi chỏ vào cạnh sườn “ông già” ghé sát tai ông nói nhỏ:

- Chà… coi bộ thằng Hai nó nghệ sĩ quá hen. Vẫn đăm đăm nhìn vào đống lửa, “ông già” nói:

- Ờ… thì hồi đó tui cũng nghệ sĩ dzậy, bộ bà không nhớ sao?

- Xí! Ai mà thèm nhớ.

- Trận nay bà đi với thằng Hai trong đoàn A nhớ rèm cặp nó nghen.

- Dạ! Nhưng em lo hậu quân, nó cánh tiền phương.

Ông già ngước lên nhìn bao quát không gian trong bóng chiều dần tối. Ông đang lắng nghe thứ âm thanh từ trên mây có vọng lại? Không, hoàn toàn yên ắng. Từ thưở nhỏ, ông thường theo Ngoại chân đất ra thăm đồng, ông học được cái tính đoán thời tiết của ông Ngoại; trước khi bước ra khỏi nhà đã ngước nhìn mây quan sát, nghe gió, nghe mưa, mũi khụt khịt đánh hơi, giơ tay hứng độ nóng của nắng, dõi mắt nhìn màu sắc chân trời, thậm chí ông Ngoại còn cúi đầu sát xuống đất, ngửi mùi đất! Ông Ngoại nói: một luồng gió lạ con cũng phải để ý, ngửi nó xem mùi gì!

 

Gió mạnh phía trước thổi hắt qua đống lửa rừng tạt khói vào mặt, ông già giật mình. Ông vội đứng lên lấy tay che tầm mắt hướng về xa xa, ông nhìn thấy đám mây đen chấm nhỏ từ chân trời. Ông ngửi thấy đầu gió nó đang rình rập nhả cơn bão rớt. Nó sẽ từ cái chấm đen nho nhỏ xa xa. Chỉ mới cách vài giờ, trung ương điện báo lễ xuất quân, thời tiết rất êm. Bầu trời quá đẹp, xanh ngắt một mầu chiều rừng núi. Dấu hiệu của sự lành báo hiệu thắng lợi cho trận đánh dứt điểm tọa độ yết hầu.

 

Đúng! đúng cái chiều hôm đó, trời quang mây tạnh, nhưng không ai ngờ rằng mưa nổi trận thiên tai. Dân Nam bộ nhìn trời biết trận mưa này thúi đất. Cơn mưa ào đến dập tắt ngúm đống lửa rừng. Ông già giơ bàn tay hứng sức nặng hạt mưa. Ông tiên đoán nó sẽ chấm dứt không lâu. Giờ xuất quân đã định, không thể lùi. Sấm nổ sét chớp liên hồi.

 

Cũng là yếu tố tốt, bất ngờ, đảm bảo bí mật cuộc hành quân. Vô tuyến thời tiết không dự báo chuyện này. Mưa chiều nắng sớm ở miệt này thường diễn ra bất ngờ, nó được biết trong kinh nghiệm chiến trường. Quyết nghị của trung ương là tận dụng thời tiết xấu để tấn kích là sở trường của quân giải phóng dù chiến sĩ quáù khổ cực, nhứt là các đơn vị pháo. Lợi dụng mùa khô vừa dứt hạn, trung ương Miền chỉ thị phải tận dụng mùa mưa sắp tới triển khai chiến dịch. Bài học chiến trường dạy kinh nghiệm đánh địch trong mùa mưa luôn tạo ưu thế thắng lợi.

 

Bóng đêm phủ xuống căn cứ mịt mùng. Mưa đổ xuống như lật trời. Nước từ các gò đất cao tràn xuống các lỗ trũng, cuồn cuộn ngập kín các con đường mòn. Gió lốc tứ phía tung tốc toé mái lán dừa ngụy trang hầm chỉ huy ẩn núp kín đáo dưới gốc cây lớn. Gió hung tợn lay chuyển cả cánh rừng già đang che chở đoàn quân trên đường di chuyển. Chỉ thị yên lặng tuyệt đối trong di hành. Cả đoàn quân lầm lũi đi trong mưa tiến về mục tiêu tập kết. Hạt mưa bay theo ngọn gió như ngọn roi quất vào mặt những người lính gan lì. Ngồi trong hầm chỉ huy sở, ông già duyệt lại các cánh quân di chuyển trên vô tuyến im lặng. Để lừa trinh sát địch, hỏa lực số 1 của đoàn B chạy bọc mạn nam sau lưng hỏa điểm nổ súng tấn công, bộ phận trung tâm tấn kích ngang sườn. Đây là trậïn đánh mở màn nhằm khai thông con đường yết hầu cho đoàn tăng tiến gần vào mục tiêu. Tư lệnh đoàn tăng sẽ tấn kính sau khi chủ lực “cắt” bộ phận địch án ngữ. Chủ lực quân của địch tập trung ở đây nhằm cản đường tăng, nhưng mạn bắc của tọa độ, địa hình hung hiểm nhất của tọa độ đã lộ ra cường độ hỏa lực yếu nhất của địch sẽ do đoàn A tiền phương xung kích bất ngờ “càn” lên hỏa điểm. Dựa vào yếu tố bất ngờ và nghi binh, trung ương phán đoán địch sẽ không ngờ ta tấn kích vào mạn này.

 

Đoàn A tiền phương di hành trong cơn mưa đến khoảng 3 giờ khuya, bỗng nhiên vô tuyến Miền nhấp nháy liên tục, khẩu lịnh truyền khẩn cấp đoàn phải dừng di chuyển ngay tức khắc, lịnh tức khắc đào hầm hố thật sâu, thật nhanh. Trận liệt vô tuyến nhấp nháy đỏ báo đoàn A đã đi lạc vào “bãi”, bãi tiêu diệt. Lịnh truyền cấp tốc xuống từng tiểu đội. Ông già gắt giọng trên tần số:

- A đứng chỗ nào?

- Báo cáo, A đứng ở X.

- Tại sao lại ở X?

- Báo cáo, mưa lớn, di chuyển lạc hai tiếng.

- Lịnh cho tất cả phải đào hố ngay tức khắc.

- Báo cáo rõ.

 

“Bãi” ám chỉ “bãi chết”. Bãi chết là bãi hủy diệt. “Bãi” là mật ngữ chỉ khu vực đánh bom của bọn “bê”. “Bê” là pháo đài bay B52. “Bãi’ được khoanh trên nhiều tọa độ, thông thường bãi rộng khoảng vài cây số vuông, “Bê” thường là dội chung quanh căn cứ hỏa lực của địch, trên đường hành quân hoặc nơi tập trung nếu bị trinh sát địch khám phá. Bãi được phân loại ra loại 1, loại 2 … dựa vào lực lượng của bộ đội mà địch huy động “bê”. Nhưng cũng có bãi “lừa”. Nghi binh lừa bãi mời bê tới. Trận liệt được vẽ trên hệ thống tình báo trong các bãi lừa, có bãi thật. Tình báo của bọn “bê” cũng không phải tay vừa. Mìn tình báo mac na ma ra chúng gài khắp nơi. Dựa vào hỏa lực vô hạn, “bê” thừa bom dội vào đoàn quân dù chưa lọt sâu “trung tâm thảm”. Cấp số hủy diệt sinh lực của bọn bê

 

 

rất cao, rất nhanh. Không một sinh vật nào có thể còn ngọ nguậy trong chu vi nếu lọt vào “thảm”.

 

Tư lệnh chiến trường phải nắm thật vững “bãi lừa, bãi thật” khi chiến trường nổ ra. Vô tuyến bí mật sẽ báo từng phút, hướng, đường bay của “bê” để lo … “chém vè”. Trên khắp nẻo chiến trường, chỉ cần biết trước vài giờ “bê” kéo đến là bảo toàn được sinh lực. Mạng lưới tình báo chiến lược và các chuyên viên truyền tin giải mã dò từ các làn sóng phải cực kỳ nhạy bén và cấp thời. Báo động sớm chừng nào thì cơ hội cho bộ đội thoát nhanh ra ngoài rìa trung tâm trải thảm chừng đó. Chiến trường cho thấy thoát khỏi hỏa lực khốc liệt của “bê” hoàn toàn dựa vào khả năng tình báo vô tuyến điện đài.

 

“Bê” là vũ khí bay chiến lược, nó là con chủ bài của cuộc chiến xâm lược lớn nhất sau thế chiến thứ hai. Đặc điểm của “bê” là bay từng đoàn, thông thường từ hai đến bốn chiếc, phi vụ thường xuất phát từ đường băng “U Tapao” từ tây nam qua đông nam, qua đông bắc. Động cơ gầm thét của “bê” được bảo vệ trước sau bởi một đoàn “con ma”, “thần sấm”, “tia chớp”. Tiếng rú gầm trời của nó âm u từ rất xa, rất cao, đủ làm rung nhẹ mặt đất. Ngửi được nó, nghe được nó, là kinh nghiệm sống chết trên chiến trường tích luỹ nhiều năm. Không cách nào thoát được trong một thời gian ngắn một khi đã lọt vào thảm hủy diệt. Dù có đào hố cá nhân cực nhanh, sâu, nhưng vẫn không thể chịu đựng sức ép của hàng ngàn tấn bom lửa nổ liên hồi kỳ trận; hộc máu chết, mảnh bom xé người nát như tương. Kinh nghiệm đau đớn “bãi chết” là kinh nghiệm để lại từ nhiều cái chết của tư lệnh. Tướng và quân trên đường hành quân một khi đã lọt vào mấy cây số vuông “bãi tử thần” không ai mong được toàn thây.

 

Toàn thân ông già đột nhiên run rẩy mạnh. Ông lảo đảo muốn té. Viên bảo vệ hốt hoảng kêu lên: anh Sáu, anh Sáu có sao không? Mặt ông già tái ngắt dưới ánh chớp đỏ liên hồi của máy siêu tần số. Căn bệnh sốt rét rừng quái ác tái lại. Không. Bọn “bê” đang lao tới. Chỉ còn khoảng mươi phút nữa, “bãi chết” lập loè trên bản đồ trận liệt. Linh cảm chiến trường đã cho ông già “ngửi” được tiếng ì ì từ xa vọng về trong cơn mưa vùa kéo đến, nhưng ông tin vào vô tuyến tình báo. Không kịp nữa. Toàn bộ đoàn A tiền phương đang dậm chân trong “bãi tử thần”! Mưa ngập trời thúi đất giam chân bộ đội.

Một hy vọng mong manh thoáng qua óc ông già, ông chỉ mong “bãi” này là “bãi” nghi binh, nhưng không còn đủ thời gian “chém vè”. Mưa chặn tứ phía. Đào hố thật sâu rúc trong nước may ra. Trận mưa thúi đất đã làm nhiễu loạn điện đài? Lỗi tại vô tuyến tình báo? Lỗi tại sở chỉ huy tối cao? Lỗi tại sao bà già búi tó phó tư lệnh đoàn A hay tại tư lệnh?

 

“Bà già búi tó”, khuôn mặt ngây thơ ngày xưa ấy, đêm đêm ngồi bên bếp lửa rừng khuấy tô canh rau hái bên bờ con kinh, nung nồi cá lóc kho muối, bàn tay nhanh nhẹn bới chén cơm trắng ngần thơm nức:

- Ông ráng ăn chén cơm lấy sức! Nhớ dòm ngó thằng con trai duy nhứt của mình. Thằng con trai ôm cây đàn ghi ta, nghêu ngao trước đại đội đầu đàn tiền phương càn vào hỏa điểm. Tui lo cánh hậu.

Vai ông già rung lên bần bật. Bom nổ rền trời. Bom nổ không dứt vọng về từ xa. Toàn bộ đoàn A đã vong mạng trong “bãi tử thần”.

 

 

Vài hạt mưa lọt qua khung cửa bắn vào mặt ông già. Mưa Sàigòn không bốc mùi thúi đất nhưng trong đôi mắt hoắm sâu dấu sau cặp mắt kiếng đã ngập bụi nước. Như sợ ai dòm thấy mình, ông già vội vàng móc trong túi áo cái khăn mù xoa bạc phếch lau lau đôi mắt.

 

17.

 

Tin riêng của “cai tù” vốn là bạn ở ngoài đời báo nhỏ cho biết có anh Sáu miền Nam muốn gặp anh em trí thức Saigon.

- Hắn tên gì? San hỏi.

- Nghe nói dòng dõi họ Phan, ông này cấp tiến, cởi mở, có tinh thần hòa giải, đây là cơ hội rất tốt cho mấy ông.

Cuộn tròn vừa đúng trên cái phần xi măng chia nhau chật như nêm cối. San vắt tay lên trán. San nhớ lại cuộc đấu khẩu vừa qua với tướng cao lớn như tây. San chuẩn bị ý nghĩ cho lần chấp cung sắp tới. Rất đáng nghi ngờ bọn “quản giáo”, “cai tù”. Bọn nó định gài bẫy chuyện gì đây!

- Lôi cổ bọn tây học với mỹ học ra đây xem nó còn chửi không! Giọng hùng hổ của viên quản giáo vọng vào cát xôâ. Tiếng xích sắt kêu leng keng.

- Đả đảo cộng sản! San gầm lên dữ dội từ trong cát xô.

- San Trần ra trình diện!

- Đả đảo Hồ Chí Minh!

San chui ra cửa, chưa kịp hưởng luồng gió mát từ cơn mưa, một bàn tay ở đâu nắm chặt lấy tóc San. Này tây này này mỹ này. Bịch, bịch, bịch… dưới bầu trời u ám, hai ba gã cao lớn khuất cửa tù vung tay liên tiếp vào người tù tròn trĩnh thâm thấp. San ngã vật xuống. Hạt mưa loang máu từ mũi, từ mắt, thấm vào mồm San mằn mặn, San chúi nhủi xuống sàn xi măng.

- Đả đảo Hồ Chí Minh!

- Đánh! Còn chửi là còn đánh! 

- Bịch … bịch … bịch …

Đêm tối che dòng máu đỏ thẫm, dòng máu của một người Việt Nam bất khuất loang lổ số 4 Phan Đăng Lưu. Hai viên công an lôi San xềnh xệch vứt trước cửa phòng chấp pháp.

- Báo cáo thủ trưởng …

- Thôi! Ông già bước ra cửa quát lên: Nó không hiểu gì cả! Không ai hiểu gì cả! Đừng đánh nữa, cho nó về lim.

Cai tù Hồ bước vào cát xô oang oang như lệnh:

- Tôi đã nói rồi, bác Hồ đã nói rồi, phải nín thở trong tù, nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại, chân lý cho những người ở tù là phải tìm đủ mọi cách để ra tù!

Quay qua người tù bên cạnh, cai Hồ nói khẽ: còn muối không? chà sát cho hắn!

 

18.

 

Mấy tháng sau số 4 Phan Đăng Lưu không thấy ông tướng cao lớn như tây ghé lại, không thấy ông trí thức trắng trẻo lên lớp, không thấy anh Sáu ghé thăm, cũng vắng giọng mấy bộ bà ba đen khăn rằn quấn cổ lên lớp cách mạng học; nghe nói họ đi hành quân, xa xa vọng về tiếng súng từ miệt tây nam biên giới rúng động Saigon. Thanh niên lại rục rịch vác súng lên đường. Súng lớn nổ càng ngày càng gần thành phố, người ta

 

không còn nghe thấy tiếng đấm, tiếng hét, tiếng chửi. Những nhóm tù lần lượt “biên chế” đi mất hút về các trại cải tạo mịt mờ. 

 

Những con đường đèn nê ông Saigon tối hẳn lại. Cơn mưa chiều lại ập đến phủ màn sương mờ nhạt khung cửa sổ phòng chấp pháp, ánh điện vàng vọt đủ hắt ra bóng dáng một ông già gân guốc ngồi bất động trên chiếc ghế bành.

- Cho “qua” thêm bình trà mới đi em./

 

Lý Kiến Trúc

Email: lykientrucvaama@gmail.com

California, tháng 4, 2011 / Nhuận sắc 11/11/ 2013

(1) Trích từ “Vì Sao Chúng Tôi Tranh Đấu”, “Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người VN Khốn Cùng”.

19 Tháng Bảy 2017(Xem: 454)
Hội sinh viên Nhân quyền Việt Nam, một nhóm sinh viên có ước nguyện cải cách giảng đường và tự do học thuật ở Việt Nam, và nhân quyền cho các sinh viên, trong tuần này công khai tuyên bố thành lập.