Nguyễn Văn Lục: Thực chất của chế độ thực dân Pháp ở VN

17 Tháng Mười 20199:50 SA(Xem: 107)

VĂN HÓA ONLINE - Ý KIẾN - THỨ SÁU 18 OCT 2019


Thực chất của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam


(1)


Nguyễn Văn Lục


Ngoài nước Pháp, chuyện buôn nô lệ da đen còn có ở nước Anh và Bồ Đào Nha (Portugal). Cả ba nước đều cũng trục lợi từ việc buôn nô lệ.


Vấn đề buôn nô lệ da vàng

Trong một bài phóng sự của Radio-Canada mới chiếu, nhan đề, “Les traces discrètes de l’esclavage en France” (Những dấu vết bí mật về việc buôn nô lệ ở bên Pháp) cho biết, cách đây 400 năm đã có các buôn nô lệ người Phi Châu xuyên Đại Tây Dương đầu tiên sang đảo Martinique thuộc địa của Pháp ở vùng Caribean. Hiện nay, người ta có thể tìm thấy di tích về lịch sử những người da đen này tại thành phố Nantes và tại Đài tưởng niệm xóa bỏ chế độ nô lệ do Krzysztof Wodiczko và kiến trúc sư Julian Bonder thành lập. Những bức tượng người da đen chạm trổ bằng đá với khuôn mặt người da đen, đeo trang sức ở lỗ tai và đặc biệt tóc của họ thì quăn. Ngoài ra còn có những chiếc thuyền được vẽ lại với các tầng khác nhau chở người da đen bị xếp nằm san sát nhau như một tầu chở thú vật.


image031

Một họa đồ chi tiết của một con tàu chở nô lệ trưng bầy ở Nantes. Ảnh: Radio-Canada / Yanik Dumont Baron


Ngoài nước Pháp, chuyện buôn nô lệ da đen còn có ở nước Anh và Bồ Đào Nha (Portugal). Cả ba nước đều cũng trục lợi từ việc buôn nô lệ. Ngày nay, Dieudonné Boutrin, con cháu của người nô lệ trước đây muốn đóng một chiếc tầu lớn nhu chiếc tầu đã chở người nô lệ ngày xưa để giáo dục và chia xẻ về lịch sử của thời đại nô lệ với mọi người.


Câu hỏi đặt ra ở đây là việc buôn nô lệ của Pháp cách đây 400 năm có thể vẫn là một “truyền thống kéo dài”, một sự thật của một cuộc khai thác và buôn người da vàng một cách trắng trợn thay chỗ cho da đen khi xâm chiếm Việt Nam. Dầu tính chất việc buôn người ấy trong từng thời điểm có thể không như nhau?


Chế độ thực dân Pháp buôn người da đen như thế là một câu chuyện dài lịch sử. Nhiều người nay đã muốn đưa thành một đề tài: đòi món nợ của của Pháp đối với các nước thuộc địa. Có lẽ Việt Nam cũng nên nghĩ đến chuyện ấy. Đó là món nợ máu của hàng triệu cu-ly Việt Nam. Một hồ sơ về bản án chế độ thực dân!


Thật vậy, vào thế chiến thứ nhất, theo tác giả Vincent Viet,


“Nước Pháp đã động viên hàng loạt những thành phần trừ bị chiến đấu thuộc dân thuộc địa — phần lớn là dân Bắc Phi như Algérie- xung vào lính thợ hoặc kỵ binh cộng chung là: 2.8 triệu người. Tuy nhiên, chỉ ngay những tuần lễ  đầu của cuộc chiến đã có những thiệt hại nặng nề nên phải bổ xung quân số. Lính trừ bị đã cạn hết. Phải tuyên truyền, chiếu phim ảnh, truyền đơn kêu gọi và hứa hẹn. Cũng không đủ phải đi đến cưỡng ép. Phải xử dụng bọn mách mối để cung cấp cho đủ người tình nguyện. Vì thế, chính quyền Pháp ở Tunisie, Algérie ra Nghị định ngày 7-9-1917, phải tham gia nghĩa vụ quân sự bắt buộc, không được thay thế hay được miễn dịch. Cuối cùng thì đã động viên được thêm 269.000 người ở các xứ Bắc Phi trong đó riêng Algérie là 172.000 người. Đông Dương là 43.000 người và Madagascar, 34.000 người.”


Vincent Viet, “Histoire des Français venus d’ailleurs de 1850 à nos jours”. Tempus, 2004, trang 83


 image033

Những người lính châu Á trong Thế chiến thứ nhất. © Sébastien LAMBALOT, 2018. Nguồn: IRASEC


Sau đó, tại mặt trận, 70.000 người trong số nêu trên đã hy sinh, trong đó có Việt Nam. Nhưng phần lớn là lính Bắc Phi vì họ được đẩy ra những mặt trận lớn. Chỉ riêng trận ở Chemin Des Dames, thiệt hại nặng nhất, có 7000 lính người Senegal hy sinh.


Vincent Viet, Ibid., trang 84


 image035


Một tiểu đoàn công nhân An Nam ra mặt trận, gần Villers Bretonneux, ngày 6 tháng 5 năm 1918. © BCID


Người An Nam (quân đội thuộc địa từ Đông Dương thuộc Pháp) lên đường tại Trại St. Raphael. Trong suốt cuộc chiến, gần 100.000 người Đông Dương đã được đưa ra mặt trận ở châu Âu, hầu hết là những người lao động, nhưng cũng có người phục vụ trong các tiểu đoàn chiến đấu. Nguồn: Thư viện quốc gia Pháp


Về phía người Việt Nam, khi nói về chế độ thực dân Pháp — người ta dùng chữ thuộc địa- chiếm đất, như mất ba tỉnh miền Nam, rồi Nam kỳ Lục tỉnh (Basse-Cochinchine hay Lower Cochinchina). Và người ta chỉ lo làm sao lấy lại được đất đã mất! 


Người ta thường chú tâm nhiều đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên như đào mỏ,  trồng các cây kỹ nghệ như trà, cà phê và nhất là cây cao su. Hoặc người ta nghĩ đến các công trình xây cất đường xá, quốc lộ, làm đường xe lửa, đào các kênh đào, khai thác điền địa, v.v.. Nhưng người ta ít chú tâm đến mặt khác của các công việc ấy. Chữ thuộc địa chưa nói rõ hết nghĩa chính sách của thực dân Pháp. Bởi vì điều chính yếu không chỉ là chiếm đất, mà cho dù chiếm đất thì cũng vẫn là khai thác con người, khai thác nô lệ da vàng là chính yếu như sẽ trình bày sau đây.


Vì thế, chúng ta cần tháo gỡ những thói quen suy nghĩ lâu đời đã thành quán tính như vậy! Khi nói: Pháp xâm chiếm nước ta, nó được hiểu ngầm là chiếm đất nước ta làm  “thuộc địa”. Mất đất thì còn có cơ may đòi lại. Mà quả thực chúng ta đã đòi lại được. Nhưng trong 90 năm, người Pháp đã biến hàng triệu người Việt Nam thành một thứ nô lệ da vàng đòi lại cái gì và lây gì để đòi lại?


Nghĩa là, người ta chỉ thấy cái bề ngoài. Người ta cảm kích khi thấy quốc lộ trải dài từ Nam chí Bắc, trải nhựa thay vì những con đường đất lồi lõm gồ ghề bùn lầy lội hay trên những bờ đê, bờ ruộng. Người ta cũng ghi sâu vào trí nhớ những đoàn xe lửa chạy phun khói thay cho xe ngựa, xe bò ì ạch, xe trâu chậm chạp. Nhìn những dinh thự xinh đẹp thay cho những mái nhà nhà tranh vách đất lụp sụp. Hay những công sở uy nghi đồ sộ thay cho những đền đài, lăng tẩm âm u của vua chúa. Những mái nhà thờ với tháp chuông cao chót vót, sừng sững chế ngự cả một vùng!


Ai trông thấy như thế mà chả mừng đất nước bước ra khỏi cảnh lầm than nghèo túng. Ai mà không hãnh diện cho những công trình mà nước Pháp mở mang khai phá tại Việt Nam?


Đấy là một tình trạng mà Pierre Brocheux và Daniel Hemery trong cuốn sách của họ: “Indochina. An ambiguous colonization in 1858-1954”, 2009 gọi là tình trạng lưỡng tính của chủ nghĩa thực dân hóa. Nó vừa có mặt tốt, mặt mở, mặt phô diễn. Nhưng vừa có mặt xấu, phản diện. Rất tiếc, mặt xấu lại là mặt chìm. Để có được như vậy, không ai hỏi xem chúng ta đã phải trả giá bao nhiêu, nếu tính bằng sức người, tính bằng sinh mạng, tính bằng những thế hệ con người?


Người ta cũng phải nhìn nhận với hai tác giả trên là trước khi người Pháp sang cai trị nước ta đời sống dân chúng thật là nghèo cùng cực với nạn thiếu dinh dưỡng thường trực, thực tế là đói thường trực không có lấy một bữa no. Tại phía Bắc Việt Nam,  khẩu phần với 128 Kg gạo/một năm hay 350 gram/ngày. Chưa kể khi có nạn đói lại khác. Bữa ăn chính ngoài cơm với các gia vị như nước tương, hay nước cáy(small crabs). Bởi vì 91% dân quê miền Bắc mỗi gia đình chỉ có 0,36 mẫu đất.


 (Pierre Brocheux, Daniel Hémery. “Indochina- An ambiguous Colonization -1984-1954”, trang 266)


 image037

Trận đói năm Ất Dậu (1944-1945). The Asia-Pacific Journal


Người ta chỉ nhớ và tưởng rằng chỉ có trận đói năm Ất Dậu (1944-1945), có nhiều vùng như Thanh, Nghệ, Tĩnh chết đói thường trực. Quanh năm, lúc nào cũng có người chết đói.


Nhưng đã không mấy ai tự hỏi xem đường xe lửa xây dựng ấy để ai đi? Có phải cho người dân quê không? Và ai là là kẻ trực tiếp thừa hưởng những lợi nhuận từ những đồn điền cao su, đồn điền trà, đồn điền cao su, từ các mỏ than, mỏ thiếc, mỏ đồng? Có chiếm được đất mà không có sức người thì đất để làm gì? Người Tây Phương sang chiếm các vùng đất rộng mênh mông của Ba Tây (Brazil), nhưng không có người khai thác nên phần lớn vùng rừng Amazon còn nguyên vẹn. Rồi trường học được mở ra để truyền bá kiến thức. Đồng ý, nhưng con cái nhà ai được vào học các trường ấy? Hay là chỉ để đào luyện một lớp tay sai ở thuộc địa? Lớn lên thì thành phần này hãnh diện về nước mẹ nuôi, Tây hơn cả Tây. Nước Pháp là nhất.  Nước Pháp đâu chỉ có Voltaire, J.P. Sartre mà còn có Pierre Loti (Louis Marie-Julien Viaud [vjo]; 14 January 1850 – 10 June 1923).


Nhận xét thứ hai còn quan trọng hơn cả là để khai thác đồn điền, để làm đường xe lửa, để xây dựng các dinh thự, ai là người đổ mồ hôi sức lực để đổi lấy đồng lương chết đói? Chỉ có trên dưới vài chục ngàn người Pháp ở Việt Nam, nhưng đã có hằng vài trăm ngàn người Việt Nam phục vụ cho họ. Một người Pháp sang Việt Nam, chỉ việc nội trợ thôi, ít lắm cũng có 5 người hầu. Người tài xế, người làm vườn, người nấu bếp, “người ở” lo dọn dẹp và ít nhất cũng có một người “phục vụ”. Ai trả những chi phí đó? Bao nhiêu người phá rừng làm đường đã chết vì bệnh, vì đói khát trên những con đường ấy? Ai là nạn nhân? Đó là những người “nô lệ da vàng” bị bóc lột làm mà không được hưởng.


Đó thực sự là câu truyện đáng đề cập tới. Cũng hai tác giả trên đưa ra vào năm 1929


“Các cơ sở kỹ nghệ của Pháp như kỹ nghệ mỏ thu dụng 53.240 phu. 81.188 phu đồn điền và 86.624 trong các nhà máy và hiệu buôn với tổng số 221.052. Con số ấy tăng lên thành 307.958 vào năm 1940-1941.”


Pierre Brocheux, Daniel Hémery. Ibid., trang 207


Vấn đề là hai tác giả trên chỉ đưa ra những con số mà không tiết lộ về thực trạng đời sống như việc tuyển mộ phu như thế nào, họ bị đối xử ra sao? Con số ở đây quả là trừu tượng không biết nói.


Nhưng cũng đừng lấy làm ngạc nhiên, nếu đi ngược dòng lịch sử con người từ thuở hồng hoang lịch sử đến xã hội bộ lạc chỉ xảy ra một cách miên tục và thường trực trong tiến trình “người bóc lột người”. Rồi từ các chế độ tộc trưởng tiếp nối sang nông nô, nô lệ, và ở mỏm cuối đến thời đại “nô lệ da vàng”.


 Đó là một tiến trình lịch sử loài người dài nhiều thế kỷ đã cho thấy một hiện trạng  “người là chó sói của người” trong tuyển chọn tự nhiên mạnh được yếu thua xét từ các loài thực vật, sinh vật kể cả loài người…


Vì thế, trở lại lịch sử chế độ “thuộc địa” Pháp ở Việt Nam, tôi rất khao khát tìm hiểu những mặt trái về các cuộc buôn người trong thế chiến I và thế chiến II. Qua các câu chuyện mộ phu đi Tân Thế giới, mộ phu đồn điền và mộ lính thợ gần 100.000 người trong thế chiến I và hàng 10.000 người trong thế chiến II. Đã có số luận án tiến sĩ sử học tại Pháp của sinh viên Việt Nam là những nghiên cứu về vấn đề này và người viết hy vọng có dịp đề cập tới sau này.


Nói cho cùng thì mộ phu, mộ lính chỉ là một kiểu buôn “nô lệ da vàng” bổ túc thêm cho việc “buôn nô lệ da đen” đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh và kỹ nghệ chiến tranh của nước Pháp trong hai cuộc thế chiến. Ở đây, tôi chỉ xin làm công việc trích dẫn, lược dịch tóm tắt một vài tác giả.


Cũng cần nói thêm là, trước 1975, ông Nguyễn Văn Trung có cho xuất bản cuốn “Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam – Thực chất và Huyền thoại, Nam Sơn xuất bản, tháng 5-1963. Nó đóng góp nhiều vào phần lý luận và tác dụng tố cáo, lật tẩy cái mặt trái mà ông dùng môt từ vựng mang tính triết lý gọi là ‘huyền thoại’. Và  để phá đổ ‘huyền thoại’, ông Trung cũng có công giới thiệu một số tác phẩm trong khoảng thời gian 1925-1935.


Những tài liệu này thât hữu ích. Chúng tôi cũng sẽ làm công việc giới thiệu và tóm lược một số cuốn sách mà người Pháp đã viết dưới dạng Hồi Ký, phóng sự tại chỗ hay dưới dạng tiểu thuyết. Chẳng hạn cuốn “Sur la route mandarine”, 1925 của Roland Dorgelès. Nhất là cuốn “Les Jauniers” của Paul Monet, Paris 1930  Và cuối cùng cuốn phóng sự của bà André Viollis. “Indochine S.O.S” 1935.


 Mỗi cuốn có giá trị riêng của nó và tôi chỉ giới thiệu cái phần xét ra quan trọng nhất liên quan đến chủ đề “buôn người”.


Trong niềm tâm tư riêng, người viết mong đợi một số dịch giả trong nước để công dịch lại những cuốn sách này cũng như còn nhiều sách sử như họ đã từng làm như dịch cuốn “Sapiens. Lược sử loài người” của Yuval Noah Harari do Nguyễn Thủy Chung dịch và Võ Minh Tuấn hiệu đính. Việc dịch những sách sử ấy sẽ thay thế cho những cuốn sách sử mang tính tuyên truyền của đảng cộng sản được in tràn lan hiện nay.


Một điều hầu như ngoài ý muốn là khi trình bày các việc buôn người trong chính sách thuộc địa Pháp, người đọc có thể nhận ra chính sách ấy cũng được nhà cầm quyền cộng sản hiện nay đang áp dụng.


Chúng ta cứ lo mất đất, mất đảo mà ít quan tâm tới mất chủ quyền. Qua trung gian những “bọn lái buôn người” đã đưa lao động Việt Nam sang làm thuê tại các nước Ả Rập, Đài Loan, Đại Hàn, Trung Hoa, và Nhật. Nói thẳng thừng ra cũng là đi làm thuê, làm mướn, làm đầy tớ cho người bóc lột sức lao động.


 Nó có khác bao nhiêu với thời thực dân Pháp?


 Tệ hơn một bậc, Việt Nam còn “buôn gái”, buôn cái thân xác hằng trăm ngàn thiếu nữ trẻ sang Trung Hoa, Đài Loan vì nạn trai thừa gái thiếu mà Trung Hoa đang “khát”! Cái đó có thể gọi trắng ra là “ buôn người”, “ buôn sex” được không? Và có thể coi là kỹ nghệ “không khói” được không? Một cái nhục quốc thể không?


Đọc và tóm lược cuốn “ Sur la route mandarine” (Con đường cái quan) của Roland Dorgelès, Paris, 1925


Phần giới thiệu


Đây là 11 bài phóng sự của tác giả ghi lại chuyến đi từ Mỏ Than Hòn Gay đến Khu phố Tàu ở Chợ Lớn, rồi thăm Trại Cùi của các bà sơ và cuối cùng thăm dân “Moi” ở Cao Nguyên, v.v.. Dorgelès muốn ghi lại những điều mắt thấy tai nghe, khám phá cái lạ “bị lật ngược” với một giọng văn khá châm biếm và mỉa mai. Cũng có thêm mắm, thêm muối cho câu chuyện thêm đậm đà. Sau đó các bài phóng sự được in thành sách. Ở đây, trích dịch và tóm lược phần đầu, phần Mỏ than Hòn Gay có liên quan đến đề tài.


Les mines de Hòn Gay (Mỏ than Hòn Gay)


image039

Quảng Ninh (tỉnh) 1920-1929 – Hòn Gay – Mỏ. Vận chuyển than tại bến tầu. Nguồn: Flickr.com


Chúng tôi đang đứng trước Mỏ than Hòn Gay. Xưa gọi là đảo Cát Bà của Á Đông. Nay là Hòn Gay là văn minh: các bạn lựa chọn đi. Theo tôi thì đây là mỏ than duy nhất trên thế giới này vì lộ thiên (người ta lấy than ngoài trời). Người ta không thể tưởng tượng được sự đồ sộ của các bậc thang đen cao ngất trời ấy. Nó được cắt ra từng khúc như thể một cái bánh ngọt khổng lồ. Trên những bậc thang đen ấy là bậc thang người, lố nhố rất nhiều người, vừa xếp từng bậc thang, cứ thế lên cao ngất trời, vừa trải rộng ra. Người ta nhìn thấy những người phu mỏ bản xứ đang quốc trên những sườn của các bậc thang ấy.. trông họ nhỏ li ti như đám bụi người (poussière humaine).


Ai là chủ tất cả những mảnh đất này? Có người nói của Hầu tước De Carabas đấy. Hay là của công ty mỏ than Hòn Gay cũng vậy. Công ty là sở hữu chủ tất cả: những cánh đồng, những cánh rừng, những căn nhà, những con đường và ngay cả những gì nằm sâu dưới lòng đất. Của công ty cả đấy.


Lại còn con đường xe lửa. Cũng của họ. Còn hải cảng này cũng của họ. Còn cái nhà thờ với mái chuông nhọn cũng của họ luôn. Cái vòm chợ có mái che cũng của họ.


Nhưng tìm ra đủ số cu-ly và giữ hàng ngàn người họ ở lại mỏ thật là câu chuyện không dễ, vì họ bỏ trốn. Người ta tìm đã đủ cách, nhưng không có kết quả gì. Bọn cu-ly chỉ cần có vài đồng bỏ túi là họ tìm cách quay trở về làng của họ. Vào dịp tết hay ngày mùa, ai cũng muốn bỏ về làng và lúc đó có hàng ngàn người bỏ trốn. Cả cái đám giám thị cũng bất lực không làm gì được. Chỉ trong vài ngày, tất cả mỏ than chỉ còn là bãi sa mạc.


image041

Mỏ than đá lộ thiên ở Quảng Ninh (1920-1929)


Làm gì bây giờ? Tư bản thực dân nghĩ ra nhiều cách, nhiều thủ đoạn. Vì thế họ chỉ trả lương tháng trước vào trung tuần tháng sau mà họ nợ. Phu mỏ bắt buộc phải ở lại vì sợ mất lương. Tuy nhiên để cho đám thợ mỏ khỏi chết vì đói và để tỏ ra có lòng từ tâm, họ sẽ cho thêm 1 đồng mỗi mười ngày nếu làm việc tốt. Họ gọi là “trả trước” (faire une avance). Và để giữ chân thợ, họ cho mở một vòm chợ, một phòng coi chiếu bóng. Thế tại sao không xây một nhà thương?


 Một nhân viên quản trị hành chánh còn nghĩ ra được một diệu kế: tôn giáo. Nhà truyền giáo đến đây thì ít ra cũng cầm chân được đám tín đồ. Và họ đã mời được một linh mục Annam thuộc tu hội truyền giáo Tây Ban Nha. Và họ đã xây một nhà thờ nhỏ và nhờ đó xứ đạo này đã cầm chân được 700 tín hữu. Có Chúa ở đâu thì giáo đân ở đó. Hay thật.


Công ty mỏ than rất giầu. Giầu lắm. 29 triệu tiền lời ròng năm vừa qua, nghĩa là tiền lời vượt cả tiền vốn lúc ban đầu. Vâng họ giàu kinh khủng. 74.000 cổ phần trị giá 16 triệu đồng lúc phát hành cổ phiếu bây giờ nó trị giá nửa tỉ đồng. Và bạn có biết rằng số tiền lời ấy của công ty Mỏ than Hòn Gay đem lại bao nhiêu cho xứ Đông Dương này và cả nước Pháp?


Không một xu.


Khi tôi nói không một xu thì phải hiểu ngầm rằng nó đã đóng thuế gần như một số tiền không đáng kể cho nước Pháp hay một vài xu của thuế mỏ như phần đông các đại công ty khác ở đây. Có những kẻ quyền lực vô danh hưởng những lợi nhuận ấy bằng cách bóc lột đến tận xương tủy dân thợ mỏ của xứ sở này. Và xứ thuộc địa không được hưởng gì, cả nước Pháp cũng vậy. Trong khi nước Pháp đã trả giá cho mảnh đất này bằng chính xương máu của nó.


Nhưng Hòn Gay ít ra cũng cho xứ Đông Dương này than đá của nó? Không có đâu. Hầu như tất cả số than đá đó đem đi bán cho Nhật vì giá lời cao. Và Sài Gòn cũng có nhu cầu đấy, nhưng vô ích. Những nhà máy ở Sài Gòn phải mua than từ Anh Quốc. Và các xe lửa thì chạy bằng than củi và như thế gián tiếp tàn phá rừng.


Đơn giản là không có tiền thì không có than.


Cuối cùng thì mỏ than Hòn Gay chỉ đem lại cho chúng ta sự oán hận của hàng ngàn cu-ly thợ mỏ!


Một vài chúng từ:  Cuốn  “Les Jauniers” (Những kẻ buôn người da vàng) Histoire vraie, tác giả Paul Monet


Vài dòng dẫn nhập | Trước tiên, xin có vài dòng dẫn nhập vào đề tài. Thật ra thì cũng có khá nhiều tài liệu, sách báo của người Pháp lên tiếng tố cáo về thực chất chế độ thuộc địa. Rất tiếc trước đây, chúng ta ít có cơ hội đọc được nên nhiều khi đã thực sự thiếu hiểu biết điều gì đã xảy ra trên chính đất nước mình. Chẳng hạn P. Loti với cuốn “Figures et chose qui passaient”, 1898. Những anh chị Tây con thì nên đọc cuốn sách này. Nhà văn Yvonne Schultz đã mô tả những đoạn đường khổ ải của những dân cu-ly (Coolies) Bắc Kỳ được gửi vào phía Nam trong tập truyện “ Đans la griffe des jauniers” vào năm 1931. Hồi ký của André Viallis “Indochine S.O.S”, 1935.  Louis Bonnefont. “Trente ans de Tonkin.” Avesne. “En face du soleil levant”.


 Xin giới thiệu tác giả Paul Monet. Ông kaf một nhân viên của sở  Địa dư Đông Dương. Cuốn sách của ông có nhan đề “ Les Jauniers. Histoire vraie”. Cuốn sách của ông đã trích thuật lại nhiều tờ báo thời bấy giờ như La volonté Indohinoise, l’Argus indochinois, le Merle mandarin, l’Écho Annamite, La Tribune indochinoise, l’Opinion.


Tóm lược dịch từ chương II, từ trang 21 trong cuốn sách


Chương II. Tại các đồn điền


(trg 21)  Người ta đều biết rõ là các đồn điền cao su tại Nam Phần cũng như tại Cam Bốt được phát triển rất nhanh đã tạo ra tình trạng thiếu cu-ly một cách trầm trọng. Để bù cho thiếu hụt cu li ấy người ta tìm cách thu dụng cu ly ở Bắc Kỳ mà trên thực tế đã bị vắt kiệt tại các vùng biên giới thưa dân chúng.


(22) Tình trạng ấy đã đưa đến rất nhiều sự lạm dụng. Những đồn điền rộng lớn hàng chục ngàn mẫu tây đã được nhượng lại cho những công ty lớn mà từ người sáng lập đến giám dốc cũng như ban quản trị đều nằm ở Paris. Và mọi công việc đều giao cho những người phụ tá trẻ và đám nhân viên từ Paris sang.


Vì thế đã xảy ra những chuyện đáng xấu hổ về việc  trung gian mua bán cu-ly.  Họ  đưa “đi đầy” hàng loạt các cu-ly Bắc Kỳ, bị lụt lội, đói kém, vào các đồn điền trong Nam.


(23) Chúng tôi đã gửi một bản phúc trình vào tháng 5-1927 cho thống đốc Varennes tố cáo những kẻ có liên quan như một số “lãnh đạo” ở Nam Kỳ, những kẻ “ái quốc giả mạo” [ám chỉ Hầu tước Monpazat. NVL] cũng như những sai lầm trong việc quản lý hành chánh trong đó có sự đồng lõa cấu kết bàng cách im lặng. Bởi vậy, chúng tôi đưa ra các sự việc như sau:


(24) Nó trở thành một một dịch vụ buôn bán, khai thác và bóc lột với nhiều lạm dụng, những cu ly này thường khi bị ốm đau bệnh tật không được chữa trị. Sau đó, những cu ly này đã trốn về Saigon trong những khu dành riêng cho dân bản xứ trong những điều kiện nghèo nàn đến cùng cực. Mình mẩy họ đầy những vết thương lở loét hoặc chân bị bệnh phù thũng vì thiếu ăn. Hiện nay ở Saigon có một số khá đông những cu-ly trốn chạy khỏi các đồn điền và không được giúp đỡ gì vì họ không có giấy tờ hợp lệ. Những thành phần khốn khổ này sau này sẽ là yếu tố đưa đến sự chống đối lại người Pháp.


(26) Những thanh tra lao dộng do ông Alexandre Varennes lập ra thì jhoong đủ, chẳng giải quyết được gì.


Tôi có những nguồn tin rất chính xác do người Pháp cung cấp cho hay những cu-ly đào tẩu đã trốn vào rừng, thà để cho dân “mọi” giết còn hơn trở về đồn điền. Các vụ tự tử cũng xảy ra thường xuyên trong các đồn điền, trung bình là 8-10 người trong một tháng. Mới đây, người ta phát giác thấy 7 tử thi không xác định được danh tính trong khu đất thuộc một đồn điền. Một nhóm khoảng 500 cu-ly đã phóng hỏa đốt cai-nha của một viên “cai” và kéo nhau đến chính quyền địa phương để tố cáo. Những viên phụ tá được gửi từ Paris sang thường thuộc loại “con ông cháu cha” chẳng có chút hiểu biết gì về dân bản xứ, rồi họ đâm ra nghiện thuốc phiện, trác táng và nhiều thứ đổ bác khác và giữ im lặng.


Tôi viết bản tường trinh này và không thay đổi những gì tôi đã biết và tôi cũng không đưa ra một lời bình luận nào. Tự nó, những bản bá cáo đủ gây xúc động mà tôi không cần phải thêm thắt điều gì.. Những sự kiện này đã được nhiều phía nhìn nhận, như từ phía người Pháp do những nguồn tin đáng tin cậy nhất và ngay cả từ phía người Annam nữa.


(28) Trước khi rời Bắ Kỳ, người ta hứa hẹn họ sẽ được cấp gạo miễn phí. Nhưng khi ở đồn điền, họ đã được bán gạo bằng cách trừ vào tiền lương. Gạo còn được bán cho cu-ly mua chịu do các vợ những tên cai cu-ly bán lại. Hoặc do các giám thị bán 2 đồng một hộc. Gạo thuộc loại gạo thật xấu.


Thực phẩm cũng phải mua qua trung gian vợ các “cai” với giá cắt cổ hoặc qua giám thị. Nước uống thì phải ra suối hoặc những con lạch. Hoặc nấu nước sôi với lá cây rừng. Đời sống thì bị các “cai” hay giám thị người Pháp hành hạ. Giao kèo chỉ ký 3 năm, nhưng đã bị kéo dài thêm với lý do trừ các ngày nghỉ chủ nhật và các ngày lễ.


Nhưng dù giao kèo hết 4 năm, người phu đồn điền cũng không đủ phương tiện  để trở về làng, bởi vì cũng không có tiền cũng như không đủ tiền để mua quần áo. Đành ký thêm 4 năm nữa.


Mỗi tháng tiền lương lại bị trừ di 5 hào để hoàn trả số tiền 6 đồng đã được ứng trước khi vào Nam.


Người ta được hứa rằng đồn điền sẽ đóng thuế thân cho họ mỗi năm trong suốt thời gian làm việc. Họ đã không giữ lời hứa nên gia đình phải đóng khoản thuế đó tại làng thay cho họ.


(30) Một phần bị hành hạ, phần khác bọ đói, phần bị nắng mưa lúc làm việc, nhiều phu đồn điền lâm bệnh và nhiều người đã chết.


(31) Nếu chết thì được đồng đội bó chiếu, rồi chôn. Có khi không có cả manh chiếu và chôn ở trên núi. Nhiều khi không đủ bốn người khiêng thì họ dùng giây thừng, buộc vào cổ kẻ xấu số và kéo lê kẻ chết trên mặt đất, vội vã chôn vùi nông. Đôi khi cái đầu, có khi cả tay chân kẻ xấu số còn lòi ra trên mặt đất. Gia đình không biết tin tức gì về cái chết của người thân vì ban Giám đốc đồn điền cố tình che dấu.


Cu-ly đàn bà còn phải lo dọn dẹp vệ sinh doanh trại của đàn ông. Và nhân thể đảm nhiệm thêm công việc làm điếm. Một người đàn bà phục vụ cho đàn ông để lấy thêm tí tiền chẳng đáng là bao nhiêu.


Dân cu-ly không có bất cứ thứ giải trí gì nên bọn cu ly đàn ông buổi chiều thường cờ bạc. Bọn cai cũng tham dự và thường lợi dụng móc sạch túi bọn cu-ly, hoặc cho vay nợ cắt cổ.


Khi cu-ly có tiền thì bọn Cai tìm cách vay mượn. Mà nếu không cho mượn thì chúng tìm cách hành hạ và trừng phạt.


(32) Mỗi khi cu-ly phạm lỗi gì thì bị bị trừng phạt rất dã man. Họ bị đánh đập bằng gậy hoặc bị đấm đá và còn phải trả tiền phạt..Tiền phạt từ 0 đồng 40 hào/một ngày hoặc 2 đồng 4 cho 6 ngày lương.


Thư từ gửi về cho gia đình phải để mở và bị thư ký đồn điền kiểm duyệt. Thư sẽ bị xé hoặc đốt nếu than thở về  đời sống cơ cực ở đồn điền. Chẳng những thế, tác giả những lá thư ấy còn bị bọn Cai hành hạ, trù dập.


(33) Thàng 11-1927, báo chí đưa tin một biến cố tại đồn điền ở Phú Riêng (đồn điền cao su của hãng Michelin), cách Saigon khoảng 100 cây số vào ngày 26 như sau: Vào mỗi sáng thứ hai, như thường lệ, ông giám thị MO (Monteil) tập họp đám cu-ly để phân phối công việc và phát thuốc kí ninh cho mỗi người. Nhưng khi ông vừa quay lưng lại thì bị một nhát dao đâm vào lưng sau đó thì cả trăm công nhân dùng dao cạo mủ xúm vào đâm chém. Ông  Monteil chỉ kịp hô hoán lên thì bà vợ ở gần đó nghe tiếng kêu của chồng kịp chạy ra thấy chồng đã nằm trên vũng máu.


(34) chứng kiến cảnh đó, bà không sợ hãi trước cả trăm culy, bà đã nổ súng 3 phát về phía bọn cu-ly. Thấy thế, bọn cu-ly sợ hãi chạy về phia nhà giám đốc đồn điền. Ông giám thị dù bị thương nặng còn kịp bảo bà vợ chạy về phía nhà giám đốc báo động vì sợ chúng sẽ giết tất cả. Nhờ thế, giám đốc đồn điền vội vã cầm súng cùng với viên phụ tá nổ súng về phía đám cu-ly chạy trốn về phía rừng Mada.


(35) Tuy thế cũng có ba người xông về phía ông M.B., ông này bắn ba phát súng. Sau đó có còi báo dộng và nhà chức trách Thủ Đầu Một và Biên Hòa điều động lính đi lùng bắt những kẻ chạy trốn tại rừng Mada.. Cuối cùng thì những phu đồn điền gốc gác Nam Kỳ và đám Mọi đã tiếp tay bắt được khoảng 30 người. Phần ông giám thị, vì vết thương quá nặng, ông đã qua đời ngày hôm sau.


(Bài báo này được trích lại từ báo Saigon Républicain, sau được đăng lại trên l’Indochine Républicain số ra ngày 6-10- 1927)


(36) Tờ báo của ông Hầu tước M. (Monpezat) ở Hà Nội đã tường thuật vắn ngọn trong trang hai dưới nhan đề: “Qu’est-ce que cette histoire?” (Chuyện này là thế nào?) Tờ báo tường thuật: “hàng trăm cu-ly, gốc Bắc Kỳ đã ám hại ông giám thị không có lý do gì.” “Những cuộc truy lùng đang tiến hành để tìm bắt bọn cướp đang tản mát trong rừng”


Trong khi đó tờ l’Écho Annamite (chủ nhiệm là ông Dejean de la Batie, nguyên quản lý tờ l’Indochine, tờ báo ra đời năm 1925 do nhà văn André Malraux làm chủ bút) ngày 20-10 lại tường thuật như sau, trích lại lời một cựu y tá của đồn điền này:


“Tôi từng làm việc 5 tháng trong cái hỏa ngục đó, tôi hiểu rõ đời sống khốn khổ của phu đồn điền, những đối xử tàn tệ mà họ phải gánh chịu cũng như nỗi khốn khổ của các thư ký và y tá. Tôi dành cái quyền được nói lên tất cả những bí mật trước công luận bằng mọi phương tiện mà tôi có trong tay.”


(37) Cũng như tại các đồn điền khác, nhữn cu-ly cũng bị đối xử tàn tệ ngay cả trong dịp Tết(tết của người Annam), họ vẫn bị quất bằng roi mây và gân bò trong khi họ tham dự vào các trò chơi cờ bạc giải trí do chủ dồn điền tổ chức.


Bị đi lưu đầy


Hoàn cảnh trở thành bi kịch khi cơ quan thuộc địa bị áp lực từ các đại công ty ở các đảo Thái Bình Dương. Họ đã cho phép gửi các cu-ly ở Đông Dương ra các đảo ấy. Trong khi dân ở các đảo này thường vẫn duy trì đời sống nguyên thủy nên không thích ứng được với đời sống văn minh của Tây Phương.


(44) “Ở Cayenne  dân số còn rất ít ỏi. Ở đấy đời sống còn nguyên sơ dù người Tây Phương đã có mặt từ 3 thế kỷ. Chúng ta đã làm gì trong 3 thế kỷ ấy? Đơn giản lắm. Chúng ta đã hủy diệt dân của họ chỉ còn vỏn vẹn 10.000 người mà trước đây con số là 10 lần hơn trước khi chúng ta tới đây.


 Chính vì lý do đó mà chúng ta phải gửi đến đây vài ngàn người Annam (Trích báo Volonté indochinoise, 29-12-27)


Thế là cu-ly Annam được tuyển mộ để đến thế chỗ cho dân địa phương đã biến mất.


Kỹ nghệ mộ phu trở nên phồn thịnh. Những viên chức kỳ mục như lý trưởng, xã trưởng và quan huyện được hưởng bổng lộc từ việc mộ phu này.


(45) “Trường hợp một viên thông ngôn được giao trách nhiệm tuyển mộ phu tại Bắc Kỳ đẻ gửi đi Nouméa và Nouvelles-Hébrides. Ông đã thu lợi cả một gia tàil đi đâu, ông cũng đi bằng xe hơi hạng sang. Dưới trướng của ông ta là thuộc hạ bản xứ, tuy lợi nhuận ít hơn, nhưng anh nào cũng kiếm được 400 đồng/một tháng (5000 frc). Những tên mộ phu này nói ngon ngọt lắm. Thật cũng chẳng khó khăn gì để thuyết phục những người nông dân nghèo khổ, hứa hẹn với họ một thiên đàng hạ giới đang chờ đón họ. Nên nhớ rằng tất cả bộ mấy hành chánh đứng đằng sau họ cũng để hỗ trợ và xác nhận lời rao hàng của bọn này.” (Volonté Indochinoise, 10-8-1927).


Sự can thiệp của Hầu tước De Monpezat


 image043

Gallica | Thư viện Quốc gia Pháp


Ông này vốn là một tài phiệt giàu có và rất thế lực. Một thứ thực dân chính cống cũng lên tiếng tố cáo “thực dân”. Ông lên tiếng tố cáo chính sách di dân sang các đảo ở Thái Bình Dương và ở Tân Thế giới. Ông vốn cũng là chủ nhân sáng lập và Giám đốc tờ  La Volonté Indochinoise cũng như là đại diện của hội đồng của chính phủ thuộc địa. Ông là người đã ở Annam hơn 30 năm và có cổ phần trong nhiều đồn điền cũng như nhiều hầm mỏ. Ông rất năng động và thông minh, có nhiều ưu điểm cũng như khuyết điểm hiểu rõ xứ Đông Dương một cách tường tận. Bấy nhiêu yếu tố đã giúp ông có một vai trò  nổi bật quan trọng trong Hội Đồng chính phủ.


(47) Ông vốn là thành phần cực đoan bảo vệ với bàn tay sắt các quyền lợi của xứ thuộc địa. Nhưng việc tuyển phu cho việc xuất cảng cu-ly cho các cơ sở kỹ nghệ ở Thái Bình Dương đe dọa đến một sự cạnh tranh nghiêm trọng, đụng chạm đến quyền lợi của xứ Đông Dương. Và nếu việc mộ phu sang Thái Bình Dương thu hút hết cu-ly thì còn đâu người để làm ở các đồn điền hay hầm mỏ? Paul Monet đã vạch trần những âm mưu thâm độc ấy. Ông De Monpezat vốn chủ trương một chính sách thống trị gay gắt đối với người bản xứ; nhưng ông ta (chỉ De Monpezat) tự nhiên cảm thấy như bị một tiếng gọi tông đồ lôi cuốn khi việc tuyển mộ cu-ly cho những sở ở Thái Bình Dương đe dọa việc mộ phu cho những cơ sở Đông Dương. Ông ta luôn luôn giữ một thái độ im lặng trước những sự tàn bạo ở Nam Kỳ, nhưng lại mở chiến dịch bài bác hết sức, khi những sự việc không kém trầm trọng nổ ra ở Tân Thế Giới hay quần đảo Hébrides, bởi vì ông nhìn thấy sự cạnh tranh nghiêm trọng đối với việc tuyển mộ phu ở Đông Dương; nó trở thành mối đe dọa khủng khiếp đến sự độc quyền của ông.


(48) Ông hầu tước De Monpesat, mà lòng ái quốc không còn gì để nghi ngờ được nữa, đã chứng minh được một cách hợp lý là những cu-ly được gửi đi Nouvelles-Hébriques thì thật ra số cu ly đó trên đường di chuyển, đã một cách nào đó di “lạc hướng” và được gửi đi Nouvelle-Calédonie hay bên Tahiti hay tại các các hòn đảo khác tại Thái Bình Dương.


(49) Ông Hầu tước đã tố cáo bằng những bằng chứng cho thấy người ta đã dùng tiền để mua chuộc các kẻ bảo trợ. Nhờ đó đã cho phép Nhà B. (Ballande) được đại diện ở Sài gòn bởi D. (Denis) Frères có thể kiếm được 3000 fr mỗi đầu người bằng cách bán lại những người đã được nhập cảng. Vì thế mới có chuyện đi lạc hướng.


(50) Nhà Denis Frère và đồng bọn đã được phép xuất cảng một lượt là 800 cu-ly mà mỗi người đem lại 3000 fr cho mỗi con người khố khổ ấy. Số tiền nhỏ ấy định giá là 2 triệu 400.000 fr cho mỗi chuyến tàu chở cu-ly. Và nếu tính cho tròn số là 3 triệu đồng.


Điều quan trọng cho thấy là những viên chức cao cấp ở xứ Đông Dương này tìm mọi cách dễ dãi cho công tác buôn người bỉ ổi nầy. Bởi vì những bọn buôn người này chỉ là những kẻ đi cứu vớt, lợi dụng cái tai biến như những trận lụt để ép buộc những con người khốn khổ này phải rời bỏ xứ sở của họ và chịu đựng cái ách làm nô lệ tạm thời vì cuộc sống của họ bị rút ngắn lại do khí hậu khắc nghiệt và sự đối xử tàn tệ


(51) Người ta có thể tin rằng những kẻ buôn thịt người da vàng  sẽ không giàu có đến như thế, nếu những viên chức hành chánh làm đúng bổn phận của họ? (Mặc dầu đã có những lời hứa chính thức rất trang trọng). Sự xuất khẩu cu-ly vẫn tiến hành một cách trơ trẽn..: Hơn 20.000 cu-ly đã xuất khẩu trong đó rất nhiều người đã không bao giờ trở lại, bởi vì họ đã chết. Nhưng hiện nay vẫn còn hơn 9000 người bị lưu đầy.


Tạm kết luận


Tài liệu của Paul Monet còn khá dài và ông còn đưa ra rất nhiều bằng chứng khác như việc lưu đầy những người cu-ly Đông Dương như một thảm kịch bẩn thỉu thật không bút nào tả cho hết được. Mời độc giả tìm đọc vậy.


Qua những gì được ông Paul Monet trình bày trong cuốn Les Jauniers cho thấy đây là những bằng chứng không chối cãi được việc buôn người từ Bắc Kỳ vào Nam và “buôn lậu” gửi đi các quần đảo thuộc địa khác là một cuộc buôn bẩn thỉu và đáng xấu hổ của chế độ thực dân Pháp mà ít ai lưu tâm cho đủ.

image045

Nguồn: https://www.culture.leclerc


Còn tiếp ở những bài viết về những cuốn sách khác, trong đó có Indochine S.O.S của nhà báo André Viollis.


Thực chất của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam

(2)

Nguyễn Văn Lụcimage029

Dinh thự thời thực dân Phhasp ở Saigon. Nguồn: https://www.myguidevietnam.com

Trong số những người pháp sang Việt Nam trong khoảng 1929-1932, phải kể đến phóng viên Andrée Viollis của một tờ báo cấp tiến, thiên tả, tờ Petit Parisien.


“Indochine S.O.S” – Một cảnh báo cho chủ nghĩa cộng sản Việt Nam?

Vào thời đó, chuyện đi lại giữa Pháp-Việt Nam không phải dễ, lại là những năm đâu của cuộc khủng hoảng kinh tế (1929-1939). Vậy mà tờ báo đã sẵn sàng chi phí tốn kém gửi các phóng viên sang Việt Nam để đưa tin.  Đây là một công việc khá mới mẻ mà trước đây ngay những tờ báo lớn của người Pháp cũng không đủ phương tiện để thực hiện. Những bài phóng sự của phóng viên Andrée Viollis đã gây ra những nguồn dư luận trái chiều không nhỏ ngay tại París. Bao nhiêu những sách nghiên cứu có tính cách hàn lâm trở thành “nhàm chán” trước những bài phóng sự  nóng hổi ở đây.


Vài dòng về ‘Lời mở đầu’ của tác giả cuốn “Indochine S.O.S” (Đông Dương Cấp cứu)


Trong phần mở đầu cuốn sách, Viollis cho biết bà đã tháp tùng một phái đoàn chính phủ Pháp do Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa là ông Paul Reynaud sang Việt Nam, năm 1931 để xem xét tình hình Việt Nam. Bà đã thấy, đã nghe, đã gặp, đã phỏng vấn đủ mọi loại người từ nhiều phía.


Tác giả cho thấy làm thế nào bà có thể gặp những nhà lãnh đạo, những người cách mạng trẻ ở Việt Nam, hững viên chức chính phủ đương quyền, những thành phần chủ trương một sự hợp tác Pháp-Việt “đề huề”. Bà cũng đã tham khảo ý kiến của người những Pháp như luật sư, kỹ sư, bác sĩ, thực dân, công chức và cả những viên chức Sở Liêm phóng.


Ngoài những tiếp xúc tại chỗ vừa kể trên. Bà còn đọc các bản điều tra của Louis Roubaud với những bằng cớ vững chắc trước đó một năm. Bà thú nhận, tôi đã không khỏi súc động một cách sâu xa về hoàn cảnh người dân thuộc địa: Khủng hoảng kinh tế, rồi nạn đói, nạn sưu cao thuế nặng, nạn hà hiếp “ cường hào ác bá” trên những người dân khốn khổ và tuyệt vọng này.


“Tôi là nhân chứng cho những sự việc đó, ghi lại những xáo trộn, những hậu quả của nó với sự thật trần truồng. Phải làm sáng tỏ sự việc. Phải cố gắng đạt được sự chính xác  mà tôi có thể làm được dựa trên những nguồn dẫn chứng chắc chắn nhất.


Nhiều dư luận bên Pháp đã nghĩ rằng tôi chống Pháp vì tôi đã không quan tâm đến những công trình xây dựng và phát triển tốt cho xứ này của người Pháp mà chỉ thấy những khuyết điểm. Và đưa ra một hình ảnh xấu của xứ Đông Dương cũng như nước Pháp.” Andrée Viollis


 Nhưng tác giả phản biện cho rằng bà không có bổn phận trình bày đầy đủ về chính sách thuộc địa. Bà để cho độc giả tự mình suy xét về những điều bà trình bày và rút ra một kết luận cho chính họ.


Andrée Viollis cũng không quên nhắc lại một lần nữa về các công trình mà người Pháp đã làm tại Viêt Nam. Nhưng bà cũng không bắt buộc phải một lần nữa, khơi lại trí nhớ, viết lại đến những công trình như đường xe lửa, đường xá hay nhà máy.


 Giữa việc phơi bày và bảo vệ sự thật, Andrée Viollis chấp nhận những lời phê phán.


Và tác giả cho rằng càng cần in tập sách này vì một vụ án ở Hà Nội vào tháng 6 năm 1933. Chính quyền thuộc địa đã tha bổng cho 5 bị cáo lính Lê Dương, trong đó có hai viên Đội. Người ta được biết chắc chắn rằng họ đã tra tấn và sau đó đã ám sát 11 người dân Annam vô tội. Những bị cáo được tha bổng viện cớ rằng họ chỉ làm theo lệnh cấp trên của họ.


“Phẫn nộ về bản án tha bổng các bị can, tôi vẫn hy vọng một bản án thứ hai, tái thẩm, theo như lời hứa hẹn của cấp thẩm quyền cao. Nhưng thực sự vẫn chưa thấy một biện pháp nào về bản án bất công như vậy.” Andrée Viollis


image047


DCVOnline | Andrée Viollis tên thật là Françoise Caroline Jacquet, sinh ngày 9 December, 1870 tại Les Mées, chết ngày 9 August 9, 1950 tại Paris.


Viollis là một nhà văn, nhà báo Pháp nổi tiếng và cũng là người hoạt động chống phát xít và cổ xúy nữ quyền.  Bà là đồng giám đốc tờ Thứ Sáu (1935-1938) – một tuần báo cánh tả của Pháp xuất hiện trong những năm Mặt trận Bình dân, một liên minh chính trị của các lực lượng cánh tả ở Pháp, gồm Đảng Xã hội, Đảng Cộng sản, Chi hội Pháp của Công nhân Lao động Quốc tế (SFIO) và các chính đảng, tổ chức chính trị khác trong giai đoạn 1935-1938 – thành viên điều hành của Tổ chức Nhân quyền, thành viên của Ủy ban Phụ nữ Thế giới chống Chiến tranh và Phát xít năm 1936. Viollis được nhiều giải thưởng kể cả Huân chương Quân đoàn Vinh dự của nước Pháp.


Sinh ra trong một gia đình tiểu tư sản có văn hóa, theo học đại học ở Pháp và Anh, tốt nghiệp Cử nhân Văn chương. Sự nghiệp làm báo của Viollis, sau khi tôt nghiệp đại học, bắt đầu với tạp chí nữ quyền La Fronde của Marguerite Durand. Lập gia đình hai lần và có 4 người con.


Đến năm 1914 Viollis mới cộng tác với tờ Le Petit Parisien, làm việc trong nhiều  lĩnh vực: thể thao, những vụ án lớn, phỏng vấn chính trị, phóng viên chiến trường. Mười năm sau Cách mạng Bolshevik, 1927, Viollis là phóng viên điều tra ở Liên Xô.


Là nhân chứng cuộc Nội chiến Afghanistan năm 1929, cuộc nổi dậy của Ấn Độ năm 1930, đi cùng với Bộ trưởng Thuộc địa Paul Reynaud qua Đông Dương năm 1931, và sau đó, năm 1932 viết về cuộc xung đột giữa  Trung Hoa với Nhật Bản.


Năm 1938, Viollis gia nhập ban biên tập của tờ nhật báo cộng sản Pháp “Ce Soir” do Louis Aragon và Jean-Richard Bloch điều hành. Thân cận với giới trí thức cộng sản, Viollis tham gia Kháng chiến ở khu vực phía Nam nước Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và và dùng ngòi bút của mình để phục vụ cuộc kháng chiến. Trong cuộc thế  chiến đó, bà ở Lyon và Dieulefit. Đến 1945 Viollis trở lại làm việc với tờ “Ce Soir” và đóng góp với một vài tờ báo khác của phong trào Cộng sản, và những bải phóng sự lớn đã đưa Viollis sang Nam châu Phi. Viollis an tang ở nghĩa trang Montparnasse.


Wikiwand và Le Maitron, “Andrée Viollis”


 Về tác phẩm


image049


Đây là những bài phóng sự tại chỗ và tin tức cập nhập nhất, “tin nóng” như tin chiến sự từ vùng đất bất hạnh gửi về, đánh động lương tâm xã hội Paris và lật tẩy cái mặt trái của chế độ thực dân tại Việt Nam. Và sau đó các bài phóng sự được đăng trên tờ “Petit Parisien”, rồi sau cả tờ Esprit, một tờ báo có uy tín của giới trí thức Pháp.


 Những bài báo ấy gây được nhiều tiếng vang khiến tác giả nổi tiếng. Nó được sự cổ võ của giới trí thức trẻ như J.P. Sartre. Satre đã nhận viết lời đề tựa khi tác phẩm được in thành sách dưới nhan đề: “Indochine S.O.S”. N.R.F, 1935, 240p


Người đọc Việt Nam, như người viết bài này, khi đọc nhiều lúc không ngăn chặn được những xúc động vì thương cho đất nước mình. Đó là một nước đất nước trầm luân trong nghèo khổ; một đất nước được coi như “ Les damnés de la terre”, như nhan đề cuốn sách của tác giả Frantz Fanon.


 Bị chính sách của người Pháp bóc lột đã đành mà còn bị bon trung gian người Việt bóc lột, từ Tổng Đốc đến ông tỉnh, ông huyện, ông chánh tổng đến ông xã trưởng và bọn tuần đinh.


Ở đây cũng cần xác định Andrée Viollis là ai. Về phương diện chính trị, bà theo lập trường thiên tả và có chân trong đảng cộng sản Pháp. Nhưng đảng cộng sản Pháp không phải là cộng sản Nga cũng không phải cộng sản Tàu; nó chú trọng đến mặt lý thuyết nhiều hơn là mặt thực tiễn. Vì thế, nó chỉ là một đảng chính trị đối lập hơn là dùng các phương tiện bạo lực nhằm lật đổ chính quyền Pháp.


Tuy nhiên, những bài phóng sự của bà, nó phảng phất sự xuất hiện mở đầu cho cộng sản Việt Nam. Mặc dầu không chỗ nào cho thấy bà trực tiếp phỏng vấn hay gặp một cán bộ cộng sản Việt Nam nào.


Đọc Viollis, tôi liên tưởng đến một phóng viên chiến trường thời Đệ II, Việt Nam Cộng hòa, Oriana Fallaci; Fallaci là một phóng viên của một tờ báo nhỏ ở Florence, sau đó tên tuổi của bà đã vượt ra khỏi biên giới nước Ý, được xếp chung với những phóng viên chiến trường nổi tiếng thế giới. Fallaci cũng có mặt hầu như ở nơi nào chiến tranh trở thành “điểm nóng” của thế giới. Fallaci đã gặp và phỏng vấn những người như Kissinger, Khomeini, Kadhafi, Walesa, Đặng Tiểu Bình. Ở Việt Nam, bà đã gặp và phỏng vấn tướng Nguyễn Văn Thiệu, tướng Nguyễn Cao Kỳ và nhất là đại tá Nguyễn Ngọc Loan.


Cả hai nhà báo này dù cách xa nhau về thời đại và hoàn cảnh lịch sử. Họ đều có mẫu số chung là thẳng thừng, xông xáo, can đảm,  lý luận sắc bén, không ngại đụng chạm, có chút bất cần và nhất là có quan điểm cực tả, đứng về phía kẻ yếu.


Nhưng hơn hết, họ là những người thông minh, có khả năng nắm bắt và hướng dẫn dư luận, khả năng tạo bất ngờ, khả năng gây kích động não trạng của người đọc.  Ngay cả những người không đồng ý hoặc chống đối cũng dè dặt và nể họ.  Họ tự dấn thân vào những hoàn cảnh phức tạp và khó xử nhất biết lúc nào đứng vè phía nào, đúng lúc, đúng thời.


Viallis là một phóng viên chiến trường chuyên nghiêp. Một vai trò mà trước đây chỉ dành cho nam giới. Trước sau bà để lại 18 tác phẩm thu tập những thiên phóng sự như “Indochine S.O.S” (Đông Dương Cấp cứu) được in năm 1935.


Viallis kể lại những dòng phóng sự đầy kinh hoàng về chế độ thực đân thời 1931, sau cuộc khởi nghĩa thất bại của Nguyễn Thái Học! Đọc và tóm lại không phải để kết án bởi vì nó chẳng ích lợi gì để kết án ai, và còn ai để kết án, ngoài cộng sản hiện nay!


Nhưng sự thất bại của Nguyễn Thái Học cho thấy sự chấm dứt các cuộc nổi dậy


trên toàn Đông Dương, đồng thời là sự đàn áp của thực dân Pháp, một cách gián tiếp mở đường cho Việt Minh cộng sản lợi dụng danh nghĩa “dân tộc” chống Pháp.


Nhưng cảnh cáo con người về sự độc ác dã man thì lúc nào cũng  là điều cần thiết. Mà có thể nó đang hiện diện đâu đây, trong một bối cảnh khác, người khác và nạn nhân khác trong thời điểm này. Nói lên sự tàn bạo, độc ác, sự tù đầy những người yêu nước năm 1930 thì cũng gián tiếp nói lên một thực trạng tương tự ở Việt Nam hiện nay chăng? Chỉ cần đổi tên những viên cai tù, những tử tù chúng ta sẽ thấy được một hoạt cảnh bi hài hiện nay.


Những gì người Pháp đã làm tại Việt Nam trước đây thì người cộng sản Việt Nam lập lại như một phó bản. Những phương tiện đàn áp thời nào cũng vậy; thời cua chúa thì voi giầy, tùng xẻo; thời thực dân Pháp thì lưu đày biệt xứ và máy chém, thời cộng sản, khéo léo hơn, khiến tù nhân chết dần mòn trong các trại tập trung, đánh gục ý chí của con người.


 Phải chăng con đường giải thực cuối cùng phải đi qua một chặng đường khó khăn hơn nữa là giải trừ cộng sản?


Trong những bài phỏng vấn của bà Viallis, tác giả  luôn luôn tìm cách gán cho các cuộc nổi loạn ấy là do “cộng sản” xúi dục gây ra. Mà một phần sự thật có thể chỉ là những người yêu nước với hành động tự phát.


Nhưng cũng nhìn nhận rằng, sự có mặt của bộ mặt cộng sản đã dần dần ló diện mà không ai ngờ được những nỗi kinh hoàng sau này. Từ thực dân dẫn đường đến cộng sản là những đoạn đường đầy nước mắt và mất mát..


Lược dịch một phần nhỏ “Indochine S.O.S”  


Tôi đã đến đây được 2 ngày. Tôi đến thăm nhà lao trung ương của Saigon cùng với một viên chức cao cấp của Sở Mật thám, ông M.X.,  mà tôi đã biết ông từ hồi ở bên Pháp. 30 năm ở xứ Đông Dương. ông nổi tiếng là người liêm khiết, khéo léo và ông được coi như người có cảm tình với người dân thuộc địa.


Nhà lao với những sân rộng mênh mông bao quanh là những tòa nhà thấp màu vàng và những dẫy hành lang chống giữ bằng những hàng cột… Ở trung tâm là một tòa nhà tráng lệ, có bãi cỏ và có đôi chim hồng đang chuyền từ những hàng cây có hoa nở.


 Có một nhóm người bị án tù dân sự ngồi xổm chung quanh những thố cơm: Đó là những tù dân sự được cho làm vườn. Những người lính canh y phục mầu trắng, đội mũ, đi lại, trên vai có cây dùi cui. Trời nóng 30 độ trong bóng râm.


Trong một góc của dãy cột hành lang, có khoảng 20 người tù, áo tù mầu xanh  nhạt, đầu trần và đi chân đất đang đứng xếp hàng đợi. Đó là những tù chính trị… Tại sao người ta không dẫn chúng tôi vào chỗ xà lim giam họ? Trông người nào cũng quá trẻ, gương mặt còn trẻ con, nhưng gày còm với vết nhăn, đôi mắt đen như nhung, ánh mắt nhìn thẳng và tự tin. Ông M.X. đã hỏi tuổi họ: tuổi từ 18-25, tên của họ: nhiều người tên Nguyễn. Họ trả lời với một giọng rất hiền từ, nhưng lại tỏ ra không mấy vui vẻ khi bị diễu đùa. Một người trong bọn họ trả lời một cách nhiệt tình:


– Chúng tôi thích người Nga, bởi vì họ không có người nô lệ.
– Đó là một ông thày giáo. Ông Giám đốc đáp lại.
– Anh bạn chắc còn nhớ mối tình đẹp của anh chứ, thằng nhỏ.
– Lúc mà chúng tôi phải xa nhau, đã lâu rồi; môt người trong bọn kêu to:
– Đã 8 tháng rồi chúng tôi bị giam cứu ở đây, vậy mà chúng tôi vẫn chưa được hỏi cung.
– Tai nạn nghề nghiệp.


Một giọng nói rất nhỏ nhẹ tiếp lời:
– Chúng tôi rất chán nản phải ở đây, không có sách đọc, không có bút, giấy.


Trang 8 | 9, octobre 1931


Viên Giám đốc đáp lại:
– Điều đó càng tốt cho tụi các anh..Đọc nhiều, viết nhiều để làm gì!


Tôi không hiểu gì hết về những cậu thanh niên còn quá trẻ này, với những câu đối đáp của ông giám đốc nửa như dọa nạt, nửa như đùa giỡn và tôi đã hỏi ông:
– Những người trẻ này có cái gì đáng ngại?
– Ồ, đáng lắm chứ, rất có thể họ bị chung thân khổ sai, có thể còn hơn thế nữa.
– Bà phải biết, tôi không thể nào ngăn chặn được một phong trào. Cách tốt nhất là giam giữ họ thôi.
– Thế là thế nào?
– Này bà, chúng ta phải lo phòng hờ.. nếu không thì những người Pháp chúng ta đây chẳng mấy chốc phải cuốn gói về Pháp!
– Nhưng họ sẽ làm gì?
– Ồ, nhiều thứ lắm. Họ có thể thuộc một đảng bí mật. Họ có thể tham gia biểu tình do cộng sản tổ chức, một trong những bọn họ đã giết viên Thanh tra mật thám Le Grand. Chúng tôi sẽ dẫn bà đến gặp kẻ sát nhân, Huy; anh ta bị kết án tử hình và sắp bị xử chém..Một tên học trò của trường Borodine ở Quảng Đông đấy. Anh ta mới 17 tuổi, thật đáng kinh tởm, một con khỉ độc, đúng là thứ quái vật!


Sau đó, chúng tôi được dẫn tới một hành lang tối om, những chiếc chìa khóa to bản xiết lên kẽo kẹt khi viên cai ngục mở cửa nhà giam. Những khoảng tối đen với các xà nhà và từ nơi này, trên sàn nhà một vũng lầy nước nhờn hôi thối xông lên. Hai hình dạng bóng người hầu như cuốn lấy nhau, tay người này ôm vai người kia, đầu người này dựa vào ngực người kia đầy tình anh em một cách thảm hại. Một người chỉ là tù thường phạm cũng bị kết án tử hình.


 Huy với khuôn mặt sưng vù của một đứa trẻ thảm bại, ném về phía chúng tôi môt cái nhìn hung dại rồi cúi mặt xuống. Cả hai người tù đều không nhúc nhích. Người cai tù rung chùm chìa khóa một cách vụng về.


 Viên chức cao cấp đặt ra những câu hỏi theo thông lệ một cách nghiêm trọng. Có một sự im lặng như thashc thức.Trái tim tôi đâp mạnh: Tôi cảm thấy xấu hổ. Tôi cảm thấy mệt mỏi khi nhìn cái cảnh này.Tôi cũng bị cuốn hút bởi cánh tay dơ ra, rồi những ngón tay nắm chặt,bóp lại như một nắm đấm. Viên giám đốc cúi xuống:
– Ồ thằng nhỏ dơ bẩn, một tay ông vỗ nhẹ lên đầu kẻ bị kết án.


Trang 9, Ibid.


Tôi sẽ không bao giờ quên được sự giật nảy mình như của một con vật bị rơi vào rọ, ánh mắt nó nhìn hận thù và đe dọa và tiếng kêu khàn khàn khủng khiếp.


Trnag 10, Ibid.


Tóm lược câu chuyện Huy bị án tử hình


Theo Viollis thì bà đã lấy tin tức từ phía Mật thám Pháp cũng như từ phia người Annam. Và đây là câu chuyện đã xảy ra ngày 8-2-1931, ngày Huy và các tù binh khác bị bắt.


Sau khi một trận đá banh vừa kết thúc thì có một đám đông thanh niên tụ họp lại. Có một thanh niên nào dó phất một lá cờ đỏ, có hình búa liềm. Những người khác thì phân phát các tờ truyền đơn cho dân chúng. Huy đứng trên một chiếc bục thấp để hô hào dân chúng. Mật thám Pháp bất ngờ đến dùng dùi cui quất túi bụi. Theo một số người cho hay thì Thanh tra Legrand đã lật úp cái bục Huy đang đứng và dùng chân đạp lên người Huy nhiều lần. Bỗng nhiên, có một phát súng lục nổ. Viên mật thám Legrand gục xuống! Bất ngờ quá. Sự việc xảy ra trong chớp nhoáng. Một tai nạn nghề nghiệp!


 Nhưng ai là người bắn? Không biết rõ là ai? Huy thì bị đạp ngã xuống đất bất tỉnh. Đám đông bỏ chạy tán loạn. Nhưng mật thám cũng bắt được khoảng 15 người.


Mật thám tra hỏi. Huy được coi như người chủ mưu. Huy từ chối không khai các bạn bè khác, anh cắn đứt lưỡi để khỏi phải nói.


Huy bị kết án tử hình mà theo nhiều nhân chứng có mặt thì Huy không phải là thủ phạm.


Phần tôi, Tôi đã ra Hà Nội vào ngày 21-11-1932 để chứng kiến ngày Huy bị tử hình. Khi được dẫn ra đứng trước máy chém, Huy định muốn nói điều gì, nhưng hai lính sen đầm đã bịt lấy miệng Huy. Người ta chỉ còn nghe tiếng hô bị tắc nghẹn “ Việt Nam”.


Nhưng Huy cũng như Phạm Hồng Thái cũng như nhiều người khác dầu vậy, nay anh có chỗ của anh giữa những người anh hùng đã tranh đấu giành độc lập cho Annam.


Chúng ta đã biến anh thành một người tử đạo!


Còn phần đám trẻ thì có 120 người bị án tù. Họ đã bị hai năm án tạm giam và sau đó nhiều người bị đầy ra đảo Côn Lôn. Và người ta không biết cái anh thày giáo trẻ với giọng nói nhỏ nhẹ than phiền vì không có sách để đọc, số phận anh ta ra sao?


Trang 11, Ibid.


Ils ne pouvaient pas payer leur impot. (Họ bị tù vì không trả được thuế.)


Bà đã theo chân người hướng dẫn với một bác sĩ và viên tổng đốc đến thăm những trại giam thường phạm. Mỗi khu trại giam chen chúc nhau dồn cục 200 người một trại. Chân họ bị cùm sắt. Trại giam tối om không có cửa sổ. Những người tù nhìn chúng tôi một cách sợ sệt và tuyệt vọng. Những khuôn mặt sạm đen với gò má lõm sâu, môi khô và nứt nẻ, chân tay ghẻ lở do những con rệp hút máu. Mỗi ngày họ chỉ thả cùm hai lần, mỗi lần chỉ 10 phút để cho tù nhân làm vệ sinh. Một tuần tắm một lần. Cứ theo những món đồ ăn mà họ phân phát trước mặt chúng tôi thì tương đối đủ ăn. Và sở dĩ họ gầy ốm phần lớn là do bệnh tiêu chảy.Và mỗi buổi sáng, người ta phải đi thu lượm xác chết. Số người chết trung bình là từ hai đến ba người trong mỗi trại.


Phần đông họ bị giam từ nhiều tháng nay. Trong khi y sĩ và viên Tổng đốc xét duyệt danh sách thì tôi có dịp phỏng vấn một vài tù nhân qua trung gian một người thông dịch. Những tù nhân trả lời tôi bằng một giọng nói nhỏ, họ đều cho biết là họ bị tù tội vì không có tiền trả thuế. Thế rồi nghe có người xúi dục, họ bèn kéo nhau đến chỗ quan lớn Pháp để xin giảm thuế. Thế rồi, họ bị bắt giam lại.


Trang 46. Ibid.


Có một đứa trẻ chừng12 tuổi mà trông như một người 60 tuổi, nó đi theo một đám biểu tình. Bị bắt và bị tù hai năm.. Chân nó nay bị què không đi được vị bị cùm. Nó biết rằng nó sẽ chết và không bao giờ có cơ hội về làng gặp lại cha mẹ. Một ông già giàu có, không trốn thuế, nhưng bị người láng giềng vu khống, tố cáo. Ông cũng có mặt ở đây.


Có một đứa trẻ khác 11 tuổi, đầu đầy chấy rận.. Đôi mắt nó khẩn khoản van nài tôi..cha mẹ nó bị kết án tử hình vì là cộng sản.Vậy là nó được dẫn về đây cùng với những đứa trẻ khác. Nó dơ đôi tay bé nhỏ van nài tôi, gót cá chân nó bị mủ vì bị xiềng xích bởi cái cùm quá rộng và quá dài.


Trái tim tôi se lại và tôi phải quay mặt đi chỗ khác một cách đau đớn và xấu hổ, bởi vì tôi đã không làm gì được cho nó.


Tất cả những kẻ bất hạnh này đều mù chữ.. Không một người nào trong bọn họ hiểu chữ cộng sản là gì.


Họ chỉ là những người nghèo. Họ chỉ là những kẻ chết đói. Chỉ có vậy!


Trang 110, Ibid.


Ở cuối trại, tôi trông thấy  một cái chuồng có khung bằng gỗ lớn. 8 đứa trẻ đầu bị cạo trọc, không đứa nào quá 12 tuổi bị nhốt ở trong đó. Trông chúng như một đàn chó con.


Người ta sẽ làm gì với những đứa trẻ ấy?


– Không, không phải là những đứa trẻ mà là những người đàn bà.
– Đàn bà! Họ bao nhiêu tuổi?
– Độ chừng 14, 15, 16..
– Tại sao bọn họ lại ở đây?


Bọn tù liếc nhìn nhau như hỏi ý kiến nhau. một ánh mắt vui thoáng qua trên những bộ mặt non choẹt xám xanh. Rồi tất cả họ lắc đầu: Họ không biết. Một người cai tù trả lời thay cho họ: “Họ làm tay sai cho cộng sản.”


Ở trại giam Hà Tĩnh, có khoảng 200 học sinh đi làm tuyên truyền. Theo người cai tù,  bọn này, chúng biết rõ tại sao chúng bị bắt, chúng xứng đáng với cái tội của chúng.
– Nhưng chúng còn bé quá?
– Người cai tù thay cho câu trả lời của tôi, nhún vai.


Tuy nhiên, ông bác sĩ duyệt danh sách cùng với viên Tong-đoc, chỉ định người này rồi đến người kia, rồi người kia nữa, cứ thế lần lượt.. người nào cũng quá yếu mệt.. Sau đó đếm khoảng dộ 100 người.


 Người ta tháo cùm cho bọn họ. Họ đứng dạy đi chập chững không vững. Rồi họ bước ra vùng ánh sáng của sân tù, người nào người nấy bị lóa mắt như mắt cú vọ.. Vài người đi đứng nghiêng ngửa, rồi không bước đi dược nữa và rồi té nhào xuống đất.


Và sau cùng thì họ cũng ngồi chụm lại bó gối thành một vòng tròn. Viên Tổng Đốc nói với giọng nghiêm khắc:


Trang 111. Ibid.



– Nghe đây, chính phủ Pháp và Annam xét rằng các người chỉ là theo bọn cầm đầu, vì sợ bị trả thù thay vì các người tự ý tình nguyện.. Chính phủ nhận thấy rằng trong số các người đều là dân dốt nát đáng được khoan hồng vì các người không phân biệt được điều nào xấu, điều nào tốt. Bởi vì ông bác sĩ đây bảo đảm là các người bị bệnh tật. Hai chính quyền đồng ý chấp thuận cho các người được về quê nhà. Các người phải biết ơn nước Pháp về lòng rộng lượng nhân từ và đừng tái phạm: lúc ấy các người sẽ bị trừng phạt nặng nề.


Người ta nghe thấy hàng trăm những tiếng rên rỉ của những con người khốn khổ này.


 Người ta cũng thấy những khuôn mặt loáng lên một chút ánh sáng hy vọng trên những khuôn mặt sạm đen như chì..Nhưng viên Tong-Doc nói thêm:


Trang 111. Ibid.


Nhưng dĩ nhiên là phải được các chức việc của làng các người chấp nhận các người. Người nào bị các viên chức làng từ chối thì sẽ lại phải đi vào tù.


Những kẻ khốn nạn nhìn nhau ngơ ngác, do dự.. Niềm hy vọng của họ hầu như tắt ngấm tuyệt vọng.


Viên bác sĩ một lần nữa chỉ biết nhún vai.

– Đó thấy chưa, công việc của tôi trở thành vô ích: một thông cáo của viên Toàn Quyền ra lệnh từ nay mỗi làng phải trách nhiệm về những xáo trộn xảy ra.


Và tôi được biết, sau khi chúng tôi rời khỏi nơi đó, họ lại xích những kẻ đáng thương đó trở lại.


Nó cho thấy sự dối trá của họ. Giả dụ cứ cho là họ sống sót sau khi mãn hạn tù. Họ sẽ trở thành cái gì? Những kẻ mất gốc rễ, những kẻ nổi loạn đói ăn đó rồi cuối cùng cuộc đời của họ cũng chấm dứt bằng máy chém!


Ông bác sĩ nín thinh không nói một lời. Và khi tôi hỏi ông ta là ở Annam còn nhiều nhà tù như chúng ta vừa viếng thăm. Ông nhìn tôi như chấp nhân rồi quay mặt đi chỗ khác.


27 novembre 1931


Sau đó, theo lời khuyên của bác sĩ Z, tôi đã đi thăm Trung tâm công giáo Xã Đoài, nơi có bà sơ Ignace phát chẩn gạo cho dân nghèo… [Xin ngừng phần này lại ở đây. Một bà sơ đến 10 bà sơ thì cũng chẳng giải quyết được gì. NVL]


Hanoi, 17-12- 1931. Như lời kết


Mượn lời một nhân vật từng tháp tùng bà ký giả trong chuyến đi nà, ông ta cho hay: tất cả những rắc rối hiện nay ở Annam là do một nền hành chánh vô trách nhiệm với việc vô hiệu quả của các nhân viên hành chánh. Hiển nhiên là người Annam thường tỏ ra độc ác với nhau như một thói quen lâu đời do từ các vua chúa đến quan quyền. Họ quen đối xử tàn bạo và coi dân như đồ cỏ rác.Vì thế, nếu tỏ ra khoan hồng với dân thì điều đó bị coi là yếu đuối. Nhưng từ đó áp dụng mạnh tay một cách mù quáng thì thật là bất công.


Đáng nhẽ  khi có những nhân viên hành chánh có lỗi phạm nặng nề thì không thể tha thứ được. Đáng nhẽ phải trừng phạt nặng nề. Người ta lại bỏ qua. Vì thế tồn tại và nảy sinh ra tình trạng kéo bè, kéo đảng rồi lộng quyền rồi bao che cho nhau. Dân bé cổ, thấp miệng kêu cứu vào ai? Từ trên xuống dưới cho thấy sự bất tài như thế được bao che cho nhau.


Đáng nhẽ người ta phải gửi đến đây những người có khả năng và kinh nghiệm nhất-như chất men trong bột- đã có trải nghiệm nhiều năm với dân bản xứ. Họ là những người như công chức nhà Đoan, người khác có kinh nghiệm xây cầu-đường, rồi những bác sĩ, những kỹ sư.. vvv. Trong khi đó, họ lại đưa một số người trẻ, vừa mới ra trường. Bọn này huyênh hoang, tự thỏa mãn về những kiến thức học được hoàn toàn lý thuyết. Họ chỉ biết lo cho những tiện ích cho bản thân họ. Còn lại họ thản nhiên một cách vô tội vạ. Họ hiếm khi nào đi thăm dân tình. Có làng 15 năm, 20 năm chưa gặp một người Pháp nào qua làng. Vì thế, họ không cần biết nỗi khổ của người dân quê chịu sưu cao, thuế nặng, đói ă như thế nào?  Để rồi  họ nghe theo lời dẫn dụ của những kẻ chủ mưu dẫn đường? Những nhân viên hành chánh này không nói được một chữ tiếng Việt. Tất cả tùy thuộc vào viên thư ký bản xứ chỉ lo ăn hối lộ của  những kẻ có nhiều tiền nhất đưa cho họ. Ngay cả một số quan tòa cũng đồng lõa ăn hối lộ..


Trang 129, Ibid.


Nhưng cái lầm lẫn lớn nhất của chúng ta, không thể sửa chữa được  là nuôi dưỡng bọn quan lại Annam. Bọn công chức này ăn hối lộ với một lòng tham vô đáy, hành hạ dân đến nơi đến chốn miễn được lòng cấp trên và được sự bảo hộ của nước Pháp. Phần người dân bản xứ chỉ biết đổ hết sự hận thù và trách nhiệm của bộ máy hành chánh mục nát ấy lên đầu nước Pháp.


Một viên chức hành chánh Pháp thú nhận là đã làm việc tại Phi Châu.. Ông cho rằng bầu khí hoàn toàn khác. Có sự thuận hảo, có một liên hệ thân tình giữa các công chức người Pháp và dân bản địa- một sự hợp tác bền bỉ và tin tưởng lẫn nhau. Tại sao tôi lại rời bỏ Phi Châu? Và tại sao tôi lại có mặt ở đây?


Và ông đã thốt ra những lời đầy thất vọng và cay đắng không khỏi chua chát.

– Có thể trong vòng 15 nữa, những người Pháp của chúng ta đang ở Đông Dương sẽ không có mặt ở đây nữa..và đó là lỗi của chúng ta!


Trang 130, Ibid.


Đôi lời cuối


Sau khi đọc xong tập phóng sự này mà tôi chỉ giới thiệu và dịch lược một vài đoạn tiêu biểu; bạn đọc nên đọc toàn bộ tập phóng sự.


Vào tháng 5, năm 1932, Viollis đã rời Việt Nam đi Tokyo. Trong phần phóng sự trích dịch, tác giả cho thấy đã có bàn tay của cán bộ cộng sản Việt Nam đứng đằng sau các vụ ám sát, biểu tình.Và nhiều người dân quê vô tội cũng như giới trẻ thanh niên nam nữ đã nghe theo lời dẫn dụ của họ và chết oan trong lao tù hay đi đầy, cả việc chịu án tử hình.


 Người ta hình như không bắt được một cán bộ cộng sản chủ chốt nào cả? Rất tiếc người Pháp cách nào đó đàn áp những người dân vô tội là gián tiếp mở con đường cho cộng sản sau này! Không có thuộc địa. Có thể không có cộng sản. Đó là lỗi lầm của người Pháp.


Và quả đúng như lời tiên đoán của một viên chức người Pháp. 15 năm sau, tức năm 1946, chiến tranh Việt-Pháp hay Đông Dương lần thứ I nổ ra vào ngày 20-12-1946.


Ở Phi Châu, tình trạng đã không xảy ra một cách tệ hại như vậy. Vì một lẽ đơn giản, ở đó chưa có cán bộ cộng sản cài đặt. Và nếu nó có sự tệ hại là do dân trí, hiểu biết chính trị của dân các nước Bắc Phi còn ở một trình độ quá thấp kém. Nói như thế, không có nghĩa là ở những nơi đó không có rối ren, không có bất công, không có đàn áp. Bởi vì chỗ nào có đàn áp, có bất công thì sẽ có rối ren và có thể đi đến nổi loạn.


Nhưng để hiểu rõ thực trạng đất nước mình hơn, tôi cố tìm đọc một tài liệu viết về Bắc Phi, nhất là Algérie. Trong đó có cuốn của Maurice T. Maschino: L’Algérie retrouvée, 2004, trong đó xin chỉ trích dẫn mở đầu đầy ý nghĩa: “ Như tôi đã biết mà không muốn nhìn nhận rằng: một Algérie theo chủ nghĩa xã hội mà đã có thời chúng tôi mơ tưởng chỉ là một ảo tưởng.”


(Maurice T. Maschino. L’Algérie retrouvée, trang 15)


May cho dân tộc Algérie!


Tại các nước này, chế độ thực dân vẫn là một thực thể không chối cãi được. Nhưng một phần không nhỏ là do những hoàn cảnh xã hội, chính trị, tôn giáo tạo ra những rổi loạn  trong chính nội bội của họ hơn là chế độ thuộc dịa.


Chỉ riêng ở Việt Nam từ chế độ thực dân sang chế độ cộng sản là những giai đoạn đẫm máu nhất, kéo dài nhất và gây tổn hại sinh mạng nhiều nhất xét trên cục diện toàn thế giới trong phong trào giải thực. Hơn ba triệu sinh linh đã chết cho một ý thức hệ ngoại lai mà nếu may mắn họ đã được miễn trừ! Như Thái Lan. Như Singapore và nhiều nước khác.


 Nhiều khi, phải thú nhận sự kém cỏi hiểu biết của chính mình cũng như không đủ cái tâm cảnh khả năng diễn đạt sâu sắc nên ở đây, tôi mượn lời một lần cuốn sách của Maschino ở trên viết về xứ Algérie. Một xứ mà sự đóng góp cho đế quốc thuộc địa nhiều nhất về sinh mạng trong các cuộc thế chiến.


Đọc họ thì như thể đọc chính mình, dân mình, xã hội mình, con người Việt Nam cũng như đất nước Việt Nam. Phải chăng có một mẫu số chung giữa các nước bị trị mà tự bản thân mỗi nước đều có lãnh đạo tồi, đều có một cộng đồng chia rẽ, sâu xé, trên bảo dưới không nghe, óc làm trùm, óc lãnh tụ, v.v..


Xin trích dịch một cách sơ xiển, lấy ý thay lời vài đoạn hầu bạn dọc suy nghĩ về chính hoàn cảnh Việt Nam trước đây và nhất là cộng đồng Việt Nam trong nước, hải ngoại trước đây-bây giờ- lúc này- ở đây-trước mặt.


 “Đất nước Algérie cho thấy một cảnh tượng một xã hội đổ vỡ, tan rã ra từng mảnh, của một thân xác bị chặt ra từng khúc mà mọi thành phần trong thân thể ấy bị gẫy lìa và chỉ tồn tại được cho chính mình. Và thật vô ích nếu người ta muốn đi tìm một mẫu số chung, một sự nối kết thật, một kỷ niệm hay một chương trình chung thì chỉ cho thấy bề ngoài là một sự rối loạn, một thái độ ứng xử không đồng thuận. Người ta chỉ nhận ra sự rạn nứt, gẫy đổ, sự sụt lở, sự bùng phát như thể sau một trận động đất: cấu trúc xã hội sụp đổ, cái khác còn tồn tại, nhưng đã biến dạng, oặn khúc, bị cô lập, một cách vô lý, như thể như một đống gạch của một căn nhà bị cắt làm đôi, còn trơ ra đứng chênh vênh trên bờ vực, một cái bếp lò đã bọp méo hay một cái ghế bành nằm trổng trơ bốn chân trổng lên trời (…) Ở bình diện chung như: miền, dân chúng, quốc gia, dẩng phái, nghiệp đoàn, mỗi thực thể hình như chỉ tồn tại cho chính mình trong sự phủ nhận của người khác.


Chính quyền bản địa không cần biết đến dân chúng, dân chúng không nhìn nhận chính quyền, đảng phái nói dối trá dân chúng và về phần dân chúng những kẻ đua đòi miền này miền kia dòm ngó nhau ganh tỵ và nhục mạ nhau, những gia đình như những bãi bùn tan vỡ và còn có những người đàn ông đè nén người phụ nữ (…)


Nếu người ta muốn nói tới một chính quyền, một cơ chế điều hành xã hội, đặt ra một chính sách và áp đặt quyền hành trên họ, thì như thế không có một chính quyền ở Algérie.


 Chỉ có những phe phái, không có tầm nhìn rộng, không có chút lo lắng về quyền lợi đất nước, không chương trình…”


Maurice T. Maschino, Ibid., trang 163-165


Trích một đoạn văn như thế mà không tặng ai thì uổng. Người viết xin trân trọng gửi đến các ông lãnh đạo hiện nay trong nước và những cộng đồng hải ngoại khắp nơi trên thế giới để tự xét lại mình.


Nguyễn Văn Lục
06 Tháng Sáu 2019(Xem: 789)
Sử gia George Dutton tìm lại các nguồn sử liệu Việt Nam và nước ngoài để chứng minh rằng những nhà lãnh đạo Tây Sơn trên thực tế không có mục đích giải phóng nông dân.