Thượng toạ Trí Quang trong bão tố chính trị và đạo pháp

25 Tháng Mười Một 20197:40 SA(Xem: 177)

VĂN HÓA ONLINE - DIỄN ĐÀN CHÍNH TRỊ - THỨ HAI 25 NOV 2019


Thượng toạ Trí Quang trong bão tố chính trị và đạo pháp


Bùi Văn Phú Gửi cho BBC News


23/11/2019

image010

Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Ngày 31/3/1975: Nhà lãnh đạo Phật giáo quyền lực nhất Nam Việt Nam, Thích Trí Quang (bìa trái) biểu tình đòi Tổng thống Thiệu từ chức. Trí Quang dẫn đầu một cuộc biểu tình của các nhà sư, giáo sĩ và cư sĩ. Thích Trí Quang được cho là đã góp phần cho việc lật đổ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vào tháng 11/1963


Hoà thượng Thích Trí Quang vừa viên tịch hôm 8/11/2019 tại chùa Từ Đàm, Huế, sau 96 năm ở cõi trần.


Ông sinh ngày 21/12/1923 tại làng Diêm Điền thuộc tỉnh Quảng Bình, với tên khai sinh là Phạm Quang.


Sự kiện ông qua đời đã làm xôn xao lên những tiếc thương cũng như bình phẩm về con người và vai trò của ông trong dòng lịch sử cận đại Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ qua.


Chùa Từ Đàm, nơi ông trút hơi thở cuối đời cũng là chiếc nôi của Phong trào Phật giáo miền Trung với cuộc đấu tranh đòi tự do và bình đẳng tôn giáo vào năm 1963.


Khởi đi từ Huế vào tháng 5/1963 bằng nhiều cuộc biểu tình với chư tăng đem bàn thờ Phật xuống đường phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đề cao Công giáo và phân biệt đối xử với đạo Phật trong sự kiện treo cờ tôn giáo.


Những biến động tại Huế xảy ra trong lúc Tổng thống Ngô Đình Diệm đang phải đối đầu với khủng hoảng nội bộ, với áp lực từ đồng minh Hoa Kỳ và đe doạ an ninh lãnh thổ từ cộng sảnBùi Văn Phú


Khi một người anh của ông Diệm là Tổng Giám mục Ngô Đình Thục tổ chức mừng 25 năm ngày nhận chức linh mục thì cờ Công giáo được treo ở nhiều nơi trong cố đô Huế. Sau đó đến lễ Phật Đản thì lại có lệnh không cho treo cờ phật giáo tại những nơi không phải cơ sở tôn giáo.


Trong một cuộc biểu tình trước đài phát thanh Huế với nhiều nghìn người tham dự và đã có hai tiếng nổ lớn khiến tám người thiệt mạng. Ai đã gây tử vong thì có những thông tin khác nhau. Phía tranh đấu cho rằng lính của Thiếu tá An ninh Đặng Sĩ gây ra. Phía chính quyền phủ nhận và cho Việt Cộng là thủ phạm.


Marguerite Higgins trong tác phẩm "Our Vietnam Nightmare" [Harper & Row 1965] có ghi nhận tại phiên xử Thiếu tá Đặng Sĩ liên quan đến tử vong tại đài phát thanh Huế ngày 8/5/1963, bác sĩ Lê Khắc Quyến, một phật tử, khám nghiệm nạn nhân thì người bị mất tay chân, người mất đầu, vết thương chỉ từ ngực trở lên. Theo tác giả, tử vong do một loại bom có sức công phá cực mạnh, hơn là lựu đạn MK III mà lính đã bắn để giải tán biểu tình, vì các chuyên gia biết rằng vũ khí đó khó gây chết người. Đó có lẽ là chất nổ plastic mà du kích Việt Cộng thường dùng trong những vụ đặt bom nơi đông người thời đó, theo nhận định của bà Higgins trong sách.


Những biến động tại Huế xảy ra trong lúc Tổng thống Ngô Đình Diệm đang phải đối đầu với khủng hoảng nội bộ, với áp lực từ đồng minh Hoa Kỳ và đe doạ an ninh lãnh thổ từ cộng sản.


Phong trào Phật giáo Tranh đấu không chỉ đem bàn thờ Phật xuống đường mà còn có những nhà sư, tăng ni tự thiêu để phản đối. Dư luận trong và ngoài nước chú ý nhất là vụ tự thiêu của Thượng toạ Thích Quảng Đức vào ngày 11/6/1963 ngay giữa thủ đô Sài Gòn.


Một cái chết mà theo Tướng Nguyễn Chánh Thi, là một phật tử, lúc đó đang sống lưu vong bên Cambodia và ghi nhận được: "Bọn Cộng sản cũng gia tăng tuyên truyền thật mạnh tại Campuchia, như tổ chức đưa đám đức Tăng thống Thích Quảng Đức vừa tự thiêu tại Saigon, thả truyền đơn kêu gọi quần chúng tham gia Mặt trận Giải phóng Miền Nam…", theo hồi ký "Việt Nam : Một Trời Tâm Sự" [Xuân Thu 1987] của ông.


Đêm 21/8/1963 lực lượng an ninh của chính phủ tấn công vào các chùa Xá Lợi ở Sài Gòn và Từ Đàm ở Huế, bắt giam nhiều nhà sư và tăng ni với cáo buộc hoạt động cho cộng sản. Thượng toạ Thích Trí Quang trốn khỏi chùa và vào sống trong một cơ quan của chính phủ Mỹ ở Sài Gòn cho đến tháng 11/1963.


'Còn nhiều tranh cãi'


image013

Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Nhà sư Thích Trí Quang bên ngoài Dinh Độc lập ở Sài Gòn, nơi ông dàn dựng một buổi biểu tình ngồi cùng với các nhà sư Phật giáo khác Ông yêu cầu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rút lại một sắc lệnh công nhận phe phái ôn hòa, do lãnh đạo thân chính phủ là Thích Tam Châu, làm Giáo hội Phật giáo chính thức vào năm 1967.


Đến nay những nhận định về vai trò của Thượng toạ Trí Quang trong việc lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm và các hoạt động liên quan đến chính trị miền Nam của ông vẫn còn nhiều tranh cãi. Ông có phải là người do CIA dựng nên để người Mỹ có cớ lật đổ ông Diệm, hay thượng toạ là người của cộng sản gài vào hàng ngũ Phật giáo?


Người bênh vực thì cho rằng thượng toạ không phải là người của CIA hay của Hà Nội mà chỉ là một nhà tu hành tranh đấu cho Phật pháp được bảo tồn và phát triển trên đất nước Việt Nam, một đất nước bị Pháp đô hộ và mới được trao trả độc lập trong lúc ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo ngày càng lan rộng trong chính trường miền Nam.


Các tài liệu đã được phía Mỹ giải mật cho thấy Thượng toạ Trí Quang không phải là người do Hoa Kỳ dựng nên. Ông đã từng biểu lộ quan điểm chống Mỹ, nghi ngờ thực tâm chống cộng sản của người Mỹ khi muốn can dự vào Việt Nam.


Trả lời phỏng vấn của nguyệt báo Tình Thương, tiếng nói của sinh viên đại học y khoa, vào tháng 5/1966, Thượng toạ Trí Quang nhận định:


"Sau cuộc cách mạng 63, người Mỹ được hưởng ở Việt Nam vô số lợi lộc: gia tăng gấp bội quân số, chiếm được những căn cứ tốt như Đà Nẵng, Cam Ranh; được thêm cả nước Thái Lan. Không chắc người Mỹ thực tâm muốn chống cộng tại Việt Nam, họ muốn duy trì Cộng sản, duy trì cuộc chiến tranh này để thủ lợi. Vì nếu thực tâm người Mỹ muốn, họ có thể làm khá hơn nhiều cục diện bây giờ bằng cách trợ giúp Việt Nam vừa chống cộng vừa xây dựng những căn bản dân chủ hơn là nâng đỡ những chính phủ tay sai. Điển hình là vụ Đà Nẵng vừa qua."


Về đảo chính 01/11/1963 lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, có phải vì những cuộc biểu tình của Phật giáo mà Hoa Kỳ đã tiến hành việc loại bỏ lãnh đạo nhà Ngô?Bùi Văn Phú


Còn cho rằng thượng toạ muốn đưa Phật giáo lên hàng quốc giáo như thời Lý - Trần, khi ông thúc đẩy có bầu cử quốc hội để toàn dân tham gia bầu chọn một chế độ đại nghị mà phần thắng sẽ là đa số đại biểu đạo Phật, Thượng toạ Trí Quang trả lời:


"Quan niệm đó không những không có lợi gì mà còn làm mất Danh Dự của Phật giáo. Tôi hoàn toàn không mong muốn như vậy. Kinh nghiệm cho thấy với những chính phủ tạm thời dù được hậu thuẫn của tôn giáo này hay tôn giáo khác chỉ cần những cuộc biểu tình vài trăm người cũng đủ sụp đổ. Như một chính phủ thành lập do hậu thuẫn của Phật giáo sẽ gặp ngay những khó khăn với các tôn giáo bạn, không làm được việc gì mà chính Phật giáo lại mang tiếng. Bởi vậy Phật giáo không bao giờ muốn tái diễn nhưng lỗi lầm của thời ông Diệm.


Tranh đấu cho Quốc hội, Phật giáo chỉ muốn xây dựng một cái gì thực sự cho quốc gia dân tộc trong đó không phải chỉ có những Phật tử mà là cả những thành phần Tôn giáo bạn và các tầng lớp dân chúng. Quốc hội, Chính phủ sẽ không đại diện cho một ưu thế riêng nào mà là đại diện xứng đáng của dân chúng."


Về đảo chính 01/11/1963 lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, có phải vì những cuộc biểu tình của Phật giáo mà Hoa Kỳ đã tiến hành việc loại bỏ lãnh đạo nhà Ngô?


Với sự kiện cấm cờ tôn giáo, phe chống chính phủ cho rằng ông Diệm kỳ thị tôn giáo. Tác giả Geoffrey D.T. Shaw ghi nhận trong tác phẩm "The Lost Mandate of Heaven" [Ignatius Press 2015] cho là không có chuyện kì thị tôn giáo vì ông Diệm có các cố vấn và nhiều tướng quân đội theo đạo Phật. Trong chính quyền có Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu là Phật tử. Nội các năm 1963 có 18 bộ trưởng, trong đó 5 người theo Công giáo, 8 theo Phật giáo và 5 theo đạo Cao Đài.


Sự bất mãn với các chính sách của nhà Ngô đã có từ lâu, khi chính quyền bắt giam và đàn áp các thành viên của nhóm Caravelle sau khi ra nhóm ra tuyên cáo phản đối chính quyền vào ngày 26/4/1960.


Một nhân vận đối lập là bác sĩ Phan Quang Đán của Quốc Dân Đảng, tốt nghiệp Đại học Harvard, dù thắng cử vào quốc hội nhưng không được cho nhận chức vì cáo buộc gian lận bầu cử. Nhiều thành viên Quốc Dân Đảng bị theo dõi, trù dập phải trốn sang Campuchia như bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn.


Ngày 11/11/1960 đã có đảo chánh, nhưng thất bại và người cầm đầu là Đại tá Nhảy dù Nguyễn Chánh Thi đã phải chạy sang Campuchia lánh nạn. Phát ngôn viên của phe đảo chánh là bác sĩ Phan Quang Đán bị bắt, kết án tù và đày ra Côn Đảo.


Ngày 27/2/1962 hai sĩ quan Không quân Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom xuống Dinh Độc Lập nhắm giết ông Diệm nhưng không thành và cũng chạy sang Campuchia.


Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, cũng là người Quốc Dân Đảng, bị bắt giam khiến ông tự tử trong tù vào đúng ngày kỷ niệm chấp chánh của ông Diệm, 7/7/1963.


'Bối cảnh và căn nguyên lịch sử'


image014

Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã chịu nhiều chỉ trích và cáo buộc cho rằng đã thiên vị Công giáo và ngược đãi, đàn áp Phật giáo


Từ đầu năm 1961 một số nhà làm chính sách của Hoa Kỳ nhận định các chính sách chống cộng của chính phủ Ngô Đình Diệm không hữu hiệu nên du kích cộng sản gia tăng hoạt động, phá hoại ở nhiều nơi. Trong khi đó còn có tin chính quyền của ông Diệm, qua ông Ngô Đình Nhu, đã liên lạc với Hà Nội để tìm cách giải quyết vấn đề thống nhất đất nước.


Để ngăn chặn cộng sản lan tràn ở Đông Á, Hoa Kỳ muốn đem quân chiến đấu vào Việt Nam mà Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson đã đề nghị với Tổng thống Ngô Đình Diệm khi hai lãnh đạo gặp nhau trong Dinh Độc Lập vào tháng 5/1961.


Vấn đề chống cộng sản nhìn qua lăng kính của cuộc Chiến tranh Lạnh thì Hoa Kỳ là đối nghịch với khối cộng sản do Liên bang Xô-Viết và Trung Cộng đứng đầu. Tây Âu bị Liên Xô đe doạ, Đông Á thì bị Trung Cộng.


Ba lực lượng muốn loại bỏ ông Diệm lúc đó là Hà Nội, Washington và Phong trào Phật giáo miền TrungBùi Văn Phú


Ở châu Á cộng sản mở rộng hoạt động ở Malaysia, Hàn Quốc, Thailand, Philippines, Indonesia. Châu Mỹ có Cuba và Cộng hoà Dominican ngay gần Mỹ làm quan ngại cho Hoa Kỳ nên đã có vụ tấn công Vịnh Con Heo ở Cuba năm 1961.


Tháng 4/1965 lính Mỹ đổ bộ vào Cộng hoà Dominican vì lo ngại cộng sản sẽ chiếm chính quyền tại đây.


Trước đó ít hôm, ngày 8/3/1965 Thủy quân Lục chiến Mỹ đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng, cũng với mục đích ngăn chặn cộng sản bành trướng, mà giới lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà đâu đã yêu cầu, theo ghi nhận của ông Bùi Diễm trong tác phẩm "In the Jaws of History" (Gọng kìm Lịch sử) [Indiana Uni. Press 1987]. Ông Diễm lúc đó là Đổng lý Văn phòng của Thủ tướng Phan Huy Quát.


Ngăn chặn cộng sản bành trướng là chính sách của Hoa Kỳ sau Thế chiến II. Tổng thống Ngô Đình Diệm lúc đầu được ca ngợi như một lãnh đạo sáng chói để bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam. Nhưng ông không muốn lệ thuộc nhiều vào Mỹ, không đồng ý cho Hoa Kỳ đưa lính chiến đấu vào Việt Nam.


Ba lực lượng muốn loại bỏ ông Diệm lúc đó là Hà Nội, Washington và Phong trào Phật giáo miền Trung.


Người Mỹ chỉ muốn loại ông Nhu ra khỏi chính trường, để ông Diệm tiếp tục lãnh đạo. Tướng Edward Lansdale, một người thân và hết lòng ủng hộ ông Diệm, cuối tháng 8/1963 đã có đề nghị đưa ông Nhu đến Đại học Harvard, cho ông một chức vụ làm cảnh nào đó để giữ ông ở hải ngoại. Ý kiến đó được sự tán đồng của Averell Harriman là phụ tá ngoại trưởng về các vấn đề chính trị, nhưng Đại sứ Mỹ tại Ấn Độ là John Kenneth Galbraith, một kinh tế gia từ đại học này và là bạn của gia đình Kennedy thì không mặn mà với đề nghị. Theo tác giả Max Boot trong "The Road Not Taken" [W. W. Norton 2018]


Ông Diệm bị lật đổ vì không muốn người Mỹ can dự quá sâu vào nội tình chính trị miền Nam. Người em là cố vấn Ngô Đình Nhu lại tỏ ra có nhiều quyền hành, mưu lược và không thích người Mỹ, cùng với ý định muốn hai miền Nam, Bắc giải quyết vấn đề với nhau. Bà Ngô Đình Nhu đã nói rằng hai ông Diệm và Nhu đang định thương thuyết với cộng sản thì bị đảo chính.


Ông Diệm có độc tài, nhưng cũng chỉ như lãnh đạo các quốc gia khác trong vùng Đông Á thời đó. Malaysia, Indonesia, Nam Hàn, Đài Loan vào thập niên 1960 đều có những chính quyền độc tài.


'Ảnh hưởng và cái kết'


image015

Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Phong trào Phật giáo Việt Nam ở miền Trung và miền Nam đã có những giai đoạn rất sôi động trong thập niên 1960 và trước 30/4/1975


Nếu mục đích của Thượng toạ Trí Quang là đòi lật đổ chính quyền độc tài để có được bình đẳng cho phật giáo, thì sau khi ông Diệm bị giết và các chính phủ kế tiếp không còn có chính sách phân biệt tôn giáo, nhưng Phong trào Phật giáo Miền Trung vẫn tiếp tục xuống đường chống lại các chính phủ của Tướng Nguyễn Khánh, của ông Trần Văn Hương, của Tướng Nguyễn Cao Kỳ.


Năm 1966 khi Tướng Nguyễn Chánh Thi bị cắt chức Tư lệnh Quân đoàn I, miền Trung, với sự hậu thuẫn của Phật giáo miền Trung, các nhóm chống đối chính quyền đã chiếm đóng nhiều nơi trong ba tháng và sắp trở thành một vùng li khai tự trị. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ phải ra tay dẹp.


Trong hồi ký "Twenty Years and Twenty Days" (Hai chục năm và hai chục ngày) [Stein and Day 1976] ông Kỳ nhận xét:


"Trí Quang là một người cứng rắn, đưa ra những tuyên bố sẵn sàng chiến đấu."


Về phong trào tranh đấu của Phật giáo ở miền Trung, ông viết:


Thượng toạ Trí Quang sau ngày 30/4/1975 đã hoàn toàn im tiếng cho đến khi qua đời, cho dù Phật giáo bị cộng sản Hà Nội thẳng tay đàn áp, nhiều lãnh đạo của Giáo hội bị giam. Điều đó tiếp tục gây tranh cãi về vai trò của ông trong những biến động chính trị tại Việt Nam.Bùi Văn Phú


"Nhiều Phật tử đang muốn cắt miền Nam ra làm hai - và họ sắp đạt được mục đích, điều mà Việt Cộng đã thất bại. Vì những nhà sư không thể nắm quyền, nên các lãnh đạo Phật giáo chỉ mong là chắc chắn những con rối của họ sẽ làm những gì họ muốn."


Dẹp xong vụ nổi loạn miền Trung, tướng Kỳ bắt Thượng toạ Trí Quang đem về Sài Gòn và giao cho bác sĩ Nguyễn Duy Tài săn sóc tại một trung tâm y tế ngay giữa thủ đô, không cần cho cảnh sát hay an ninh canh gác. Nhưng ông Kỳ cảnh cáo sẽ "bắn bỏ (bác sĩ Tài) cùng vợ con và gia đình" nếu thượng toạ trốn thoát hay bác sĩ để ông bị bệnh nặng.


Suốt một thập niên sau đó, Thượng toạ Trí Quang là một nhân vật có ảnh hưởng trong chính trường miền Nam. Nhiều chính trị gia tham vấn ông khi ra tranh cử hay đề xuất chính sách.


Cho đến những ngày sau cùng của Việt Nam Cộng hoà ông còn xuống đường đòi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức.


Tổng thống Dương Văn Minh, vị lãnh đạo hai ngày của Việt Nam Cộng hoà, trước khi có quyết định đầu hàng cộng sản miền Bắc cũng đã xin thỉnh ý của thầy.


Chuyện gì xảy đến với Thượng toạ Trí Quang sau ngày 30/4/1975? Theo Tướng Nguyễn Cao Kỳ viết trong tác phẩm "Buddha's Child" [St. Martin's Press 2002] thì thượng toạ bị cộng sản giam tù nhiều năm và khi ông Kỳ ngồi viết tác phẩm này thì nhà sư một thời tranh đấu đã được tự do và có sức khoẻ tốt.


Trong sách "The Third Force in the Vietnam War" [IB Tauris 2017], Sophie Quinn-Judge ghi lại lời kể của Nguyễn Hữu Thái, một lãnh đạo của Tổng hội Sinh viên Sài Gòn với quan điểm ủng hộ phật giáo tranh đấu và cũng là người có mặt tại đài phát thanh Sài Gòn trong khoảnh khắc Tướng Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Ông Thái nói với tác giả rằng sau 30/4/1975 ông có nhận được lời nhắn của Thượng toạ Trí Quang khuyên ông "bây giờ Cách mạng cần người mới và chúng ta phải ý thức rằng chúng ta không còn cần thiết nữa. Đừng liều lĩnh quá xa."


Thượng toạ Trí Quang sau ngày 30/4/1975 đã hoàn toàn im tiếng cho đến khi qua đời, cho dù Phật giáo bị cộng sản Hà Nội thẳng tay đàn áp, nhiều lãnh đạo của Giáo hội bị giam.


Điều đó tiếp tục gây tranh cãi về vai trò của ông trong những biến động chính trị tại Việt Nam./


+++++++++++++++++++++++++++++


XEM THÊM:


Hỏa thiêu nhục thể Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang

image016

Đình Toàn

12/11/2019 Thanh Niên


Hàng ngàn tăng ni, phật tử tiễn đưa nhục thể Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang đến khuôn viên công viên Vĩnh hằng vườn địa đàng Huế để hỏa thiêu theo di huấn của đại lão hòa thượng.


Sáng 11.11, hàng ngàn tăng ni, phật tử đã tiễn đưa nhục thể Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang đến khuôn viên công viên Vĩnh hằng vườn địa đàng Huế (xã Thủy Bằng, TX.Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) để hỏa thiêu theo di huấn của đại lão hòa thượng. Sau nghi thức hỏa thiêu, tro cốt nhục thể của đại lão hòa thượng được đưa về chùa Từ Đàm thờ tự.


Như Thanh Niên đã thông tin, Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang viên tịch vào tối 8.11 tại phương trượng chùa Từ Đàm, trụ thế 97 năm, 72 hạ lạp (tuổi công đức tu hành).


Theo Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên - Huế, Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang là một bậc danh tăng thời hiện đại, có tầm ảnh hưởng lớn đối với Phật giáo Việt Nam./


Phật tử xúc động với tang lễ giản đơn của Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang


image016

Đình Toàn


Là người có nhiều cống hiến cho Phật giáo, bậc cao tăng đức độ, khi viên tịch, Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang càng khiến cho bao Phật tử xúc động về sự dung dị, ngay cả trong tang lễ.


image017

Các vị hòa thượng, chức sắc trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên - Huế hành lễ tại lễ tang Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang


ĐÌNH TOÀN


Ngày 9.11, đông đảo chư tôn đức, các bậc hòa thượng, trưởng lão; tăng ni, phật tử và người dân đã đến chùa Từ Đàm (số 1, đường Liễu Quán, TP.Huế, Thừa Thiên - Huế) để hành lễ cầu nguyện, tiễn biệt Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang.


Linh cữu của Đại lão Hòa thượng được quàn tại Văn phòng Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên - Huế, trong khuôn viên chùa Từ Đàm.


image018image020

Chư tôn đức, tăng ni hành lễ trong lễ tang Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang. ĐÌNH TOÀN


Sau lễ khâm liệm được tổ chức vào sáng sớm cùng ngày, lễ tang của cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang được tổ chức theo di huấn của ngài trước khi viên tịch.


Theo đó, lễ tang “không bàn thờ, bát nhang, báo tang, thành phục, đưa đám, phúng điếu”; “sau khi chuyển đến lò thiêu, thiêu rồi đem về chùa làm tuần, chung thất trăm ngày, tiểu tường và đại tường” và mỗi lễ “chỉ tụng một trong các kinh Địa tang, Kim cương, Bồ tát giới, Pháp hoa và Thủy sám; mỗi lễ đều không thông báo và mời ai dự cả”.


image022

Phật tử cầu nguyện trong lễ tang Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang. ĐÌNH TOÀN


Những nội dung của di huấn này cũng được môn đồ Pháp quyến niêm yết thông báo ở tiền sảnh ngôi nhà tổ chức tang lễ của ngài.


Đây cũng là điều khiến tang lễ của Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang rất giản đơn, dung dị, không hoa, cờ phướn, phẩm vật phúng điếu thường thấy ở nhiều đám tang khác.


Khi đến viếng, tiễn biệt vị cố trưởng lão, phần lớn các vị chư tôn đức, tăng ni, phật tử đã dừng thật lâu để đọc thông báo cũng như di huấn của ngài về một lễ tang giản đơn, dung dị. Vẫn biết sinh tử vô thường, nhưng sự ra đi của Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang khiến bao phật tử tiếc thương, xúc động.


Từ Quảng Trị, Đại đức Thích Trí Năng, một người con của Huế, khi hay tin vị Đại lão Hòa thượng viên tịch, thầy đã có bài văn tế cảm động, trong đó có đoạn: "Hỡi ôi! Cánh Hạc quy Tây/Thốn tâm kính cảm/Bậc thượng thừa xã bỏ báo thân/Lời di huấn rúng động/Không lại hoàn không/Có chi đâu mà phải thương sầu khóc tiễn/Một bát nhang cũng không/Thân tứ đại quay về tứ đại"... 


image024

Một tu sĩ tụng niệm trong lễ cúng cơm. ĐÌNH TOÀN


Theo thông tin từ Hòa thượng Thích Hải Ấn, trụ trì chùa Từ Đàm, mặc dù di huấn của Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang thì sau chừng 6 giờ viên tịch, thi hài ngài sẽ được đưa lên xe tang để mang đi hỏa thiêu (tại Đà Nẵng - PV); sau đó đưa tro cốt trở về Huế, nhưng môn đồ pháp quyến vẫn để linh cữu của ngài quàn tại Văn phòng Ban trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế thêm 3 ngày để phật tử, người dân đến hành lễ tiễn biệt.


image026

Một nữ Phật tử cầu nguyện trong lễ tang Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang. ĐÌNH TOÀN


Như Thanh Niên đã thông tin, do niên cao, lạp trưởng Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang đã thuận thế vô thường an nhiên viên tịch vào lúc 21 giờ 45 phút tối 8.11.2019 (nhằm ngày 12.10 năm Kỷ Hợi), tại phương trượng chùa Từ Đàm, số 1 đường Sư Liễu Quán, P.Trường An, TP.Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế; trụ thế 97 năm, 72 hạ lạp (tuổi công đức tu hành).


image028

Phật tử xem thông báo và di huấn về tang lễ giản đơn của Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang. ĐÌNH TOÀN


Xuất gia khi 13 tuổi (năm 1936) Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang là tác giả của nhiều công trình giảng luận Phật pháp, Luật học của người xuất gia, là nhà phiên dịch, chú giải nhiều kinh điển Đại thừa, sám pháp, luận sớ của chư vị Bồ - tát, chư Tổ sư và hàng trăm bài khảo luận dựng lại tinh thần Phật giáo trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo, làm nền tảng cho Phật học và thái độ ứng xử theo Chánh pháp.