Bao giờ Biển Đông sẽ có COC? Nhìn lại DOC, TQ núp bóng COC

20 Tháng Mười Một 201811:21 CH(Xem: 210)

VĂN HÓA ONLINE - BIỂN ĐÔNG/HOA ĐÔNG  - THỨ TƯ 21 NOV 2018


image053


Bao giờ Biển Đông sẽ có COC, nhìn lại DOC, TQ núp bóng COC


TIẾN SỸ TRẦN CÔNG TRỤC


09:35 19/11/18


Phần 1


 (GDVN) - Chúng tôi hy vọng COC được ký kết càng sớm càng tốt, thậm chí sẽ được ký kết chỉ trong nay mai chứ không phải chờ đến 3 năm như tuyên bố của ông Lý Khắc Cường.


Tờ South China Morning Post ngày 13/11/2018 đưa tin Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã phát biểu trước khi tham dự Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN thường niên, tại Singapore rằng:


“Mục tiêu của Trung Quốc là hoàn tất những cuộc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử cho vùng Biển Đông bị tranh chấp trong vòng 3 năm, trong khi Trung Quốc đã duy trì mối quan hệ ổn định với các nước láng giềng;


Trung Quốc hy vọng Bộ quy tắc ứng xử giữa Trung Quốc và các nước tranh chấp có thể sẽ được đàm phán thành công trong thời gian 3 năm tới, vì lợi ích giữ vững và duy trì hòa bình trong khu vực.”.


Phát biểu này đã khiến dư luận dâng trào cảm xúc nửa mừng nửa lo.


Mừng, vì người đứng đầu Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã công khai cam kết và chủ động bày tỏ quyết tâm cùng các nước ASEAN tiến hành đàm phán để sớm có được Bộ quy tắc ứng xử trong Biển Đông;


Động thái này theo tuyên bố của Thủ tướng Trung Quốc nhằm đáp ứng nguyện vọng của cộng đồng khu vực và quốc tế trong bối cảnh tranh chấp về địa - chính trị, địa -chiến lược, địa - kinh tế phức tạp hiện nay.


image054

Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.


Lo, vì những gì đã xảy ra trên thực tế lại mâu thuẫn với những tuyên bố ngoại giao có vẻ rất thiện chí, quả quyết và lạc quan của Trung Quốc, trong đó có vấn đề xây dựng COC, cả về hình thức lẫn nội dung và thời gian hoàn thiện cụ thể.


Để giúp bạn đọc Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam có căn cứ để xác định rõ ràng cảm xúc nên mừng hay nên lo trước “tuyên bố có cánh” đó, chúng tôi xin cung cấp thêm thông tin có liên quan đến quá trình xây dựng COC, những khó khăn, thuận lợi và nguyên nhân trong những thập niên qua.


Trong phần đầu tiên, xin điểm lại quá trình đàm phán và triển khai Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002, để rút ra những bài học, đánh giá triển vọng và rào cản trong việc ký kết, thực hiện COC.


Năm 1995, Trung Quốc xâm chiếm đá Vành Khăn (Mischief Reef) đang do quân đội Philippines chiếm giữ.


Hoạt động này của Trung Quốc là sự nối tiếp hàng loạt các hành động sử dụng vũ lực xâm chiếm một số thực thể địa lý trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam năm 1988; sau đó, tiến hành đào bới, bồi đắp, xây dựng các đảo nhân tạo quy mô lớn đủ để xây dựng các căn cứ quân sự.


Tất cả những động thái quân sự hóa đó của Trung Quốc khiến cho tình hình Biển Đông thêm nóng, nguy cơ xung đột có thể xảy ra khiến cho cộng đồng khu vực và quốc tế hết sức quan ngại.


Vì vậy, năm 1996 các thành viên ASEAN đã đề xuất ý tưởng cùng Trung Quốc tiến hành xây dựng Quy tắc ứng xử trong Biển Đông.


Nhưng phải chờ đến 4 năm sau, năm 1999, tiến trình  xây dựng Quy tắc này mới được phía Trung Quốc chấp thuận để tiến hành đàm phán. Các cuộc thương thảo này đã diễn ra một cách không suôn sẻ như mong đợi.


Lúc đầu Trung Quốc không chấp nhận đàm phán xây dựng một COC, lấy l‎ý do ASEAN và Trung Quốc đã có Tuyên bố hợp tác hướng tới thế kỷ 21 ký tháng 12/1997 tại Kuala Lumpur.


Nhưng lý do đích thực là Trung Quốc muốn có thời gian để ra tuyên bố đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa năm 1996, thông qua Luật Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 1998, công bố lệnh cấm đánh bắt cá từ năm 1999 nhằm củng cố sự hiện diện của mình ở Biển Đông.


Trong khi đó, Đài Loan cũng té nước theo mưa, thông qua đạo luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1998, Luật Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa năm 1999.


Malaysia chiếm thêm Én Đất và Bãi Thám hiểm tháng 6/1999.


Bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông lúc đó buộc các nhà ngoại giao khu vực phải sớm có một giải pháp.


Thế nhưng các cuộc đàm phán giữa các bên chỉ đi đến một kết quả nửa đường – Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) vào năm 2002 sau hơn 2 năm đàm phán và 10 năm nung nấu ý tưởng.


Trong một bối cảnh như vậy, việc cần có một thành quả chính trị làm hạ nhiệt cơn sốt Biển Đông là một đòi hỏi bức bách với các bên.


Những điều kiện của 9 năm trước cho ra đời DOC 2002 dường như lại tái hiện ở mức cao hơn trong việc thông qua Bản quy tắc hướng dẫn DOC.


Từ Đối thoại Shangri-la cho đến cuộc họp các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN ADMM+ trong tháng 5/2011; các cuộc họp SOM chuẩn bị cho AMM 44 và ARF 18 trong tháng 6/2011, đâu đâu cũng thể hiện yêu cầu sớm có một bản COC như biện pháp xây dựng lòng tin nhằm tránh Biển Đông lại nổi sóng.


Sáu vòng đàm phán của Nhóm làm việc ASEAN - Trung Quốc về hướng dẫn thực thi DOC từ 2002 với 20 đề nghị sửa đổi, trao qua đổi lại buộc phải kết thúc.


Trong bối cảnh như vậy, Bản quy tắc hướng dẫn cũng chỉ là một bước đi nhỏ tính từ thời điểm thông qua DOC 2002 trên con đường đầy gập ghềnh gian khó để đạt được mục tiêu COC trong năm 2012 nhân dịp kỷ niệm 10 năm DOC 2002.


Điều này thể hiện rõ trong nội dung của Bản quy tắc hướng dẫn so với các nguyên tắc được nêu trong DOC 2002.


Tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Trung Quốc lần thứ 13 tổ chức tại Hà Nội ngày 29/10/2010, lãnh đạo cấp cao ASEAN và Trung Quốc khẳng định lại cam kết triển khai đầy đủ, hiệu quả DOC.


Đồng thời hướng tới thông qua Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trên cơ sở đồng thuận, qua đó, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực; hoan nghênh những tiến triển đạt được trong lĩnh vực này trong thời gian vừa qua.


Tuy nhiên, do nhiều lý do, trong đó có cả sự khác biệt về quan điểm, lợi ích, nên một số biện pháp dự tính trong DOC chưa được triển khai như: tìm kiếm các biện pháp xây dựng lòng tin hoặc tìm kiếm các biện pháp hợp tác trong những lĩnh vực ít nhạy cảm.


Hơn nữa, những diễn biến phức tạp về an ninh, nguy cơ leo thang xung đột trong thời gian gần đây ở Biển Đông đang gây sự quan ngại và quan tâm sâu sắc của khu vực và cộng đồng quốc tế.


Những vấn đề đó cũng đang bộc lộ những hạn chế về vai trò của DOC đối với an ninh, ổn định ở Biển Đông hiện nay.


Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC được ASEAN và Trung Quốc thông qua năm 2011, tuy là bước tiến đáng ghi nhận nhưng cũng chưa phải là cam kết pháp lý hữu hiệu để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.


Trong năm 2012 Campuchia giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, an ninh Biển Đông là chủ đề thu hút sự chú ý rất lớn của các Hội nghị.


Theo đó, cùng với các vấn đề quan trọng khác, lãnh đạo các nước ASEAN và các nước đối tác cũng nêu rõ sự cần thiết phải xây dựng và thông qua COC.


Ngày 20/7/2012, Ngoại trưởng các nước ASEAN đã ra Tuyên bố “Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông” nêu rõ, thực hiện đầy đủ DOC (năm 2002), Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC (năm 2011) và sớm đạt được COC.


Tuyên bố cũng coi đây là bước đi cấp thiết trong tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội vào năm 2015.


Đồng thời, tạo tiền đề để giải quyết triệt để và lâu dài đối với tranh chấp phức tạp, duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải trên Biển Đông nói riêng, khu vực và thế giới nói chung.


Theo đó, ASEAN cùng Trung Quốc cần sớm xây dựng và ban hành COC mang tính ràng buộc pháp lý, khắc phục những điểm bất cập của DOC, dựa trên nền tảng luật pháp quốc tế nhất là UNCLOS, TAC và các văn bản pháp lý liên quan khác.


Nhưng, căn cứ vào tình trình xây dựng COC giữa Trung Quốc và ASEAN, cũng như những gì mà Trung Quốc đã nói và làm trên thực tế, dư luận đều nhận thấy rằng: mặc dù, Tuyên bố ASEAN - Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đã kêu gọi các bên thông qua COC, nhưng mãi đến năm 2013, Trung Quốc mới đồng ý cùng với các nước ASEAN gặp nhau để “tham vấn” về COC.


Tuy nhiên, do phía Trung Quốc không ngừng tiến hành các hoạt động vi phạm các quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia xung quanh Biển Đông, đặc biệt là đối với Việt Nam và Philippines, một số thành viên ASEAN đã nhiều lần kêu gọi xúc tiến các cuộc đàm phán về COC.


Phần 2


20/11/18


 (GDVN) - Phải cho tới sau khi Tòa trọng tài ở La Haye ra phán quyết lịch sử vào ngày 12/7/2016 thì Trung Quốc mới đồng ý đẩy nhanh tiến trình “tham vấn”.


Phải cho tới sau khi Tòa trọng tài ở La Haye ra phán quyết lịch sử vào ngày 12/7/2016 thì Trung Quốc mới đồng ý đẩy nhanh tiến trình “tham vấn”.


Theo nhận định của các học giả quốc tế thì có hai lý do có thể giải thích tại sao Trung Quốc đồng ý làm vậy.


Thứ nhất, để cứu vãn uy tín do Phán quyết Tòa Trọng tài quốc tế đã thẳng thừng bác bỏ yêu sách phi lý theo đường “lưỡi bò” của Trung Quốc trong Biển Đông, Bắc Kinh muốn đánh lạc hướng sự chỉ trích việc nước này bác bỏ phán quyết của Tòa trọng tài.


Thứ hai, mặc dù phán quyết hoàn toàn ủng hộ Philippines, ông Rodrigo Duterte đã quyết định đặt nó sang một bên và ưu tiên tăng cường quan hệ kinh tế với Trung Quốc;


Đồng thời ông thúc đẩy việc tiến hành đàm phán song phương để giải quyết các yêu sách về chủ quyền và quyền tài phán chồng chéo của hai nước.


Việc hạ nhiệt căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc cũng có thể đã góp phần cải thiện bầu không khí trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc.


Trong nửa đầu năm 2017, các quan chức ASEAN và Trung Quốc đã gặp gỡ 3 lần để thảo luận COC.


Tại cuộc họp Nhóm công tác chung ASEAN-Trung Quốc lần thứ 19 về thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (JWG-DOC) ở Bali, Indonesia, ngày 27/2/2017, hai bên đã nhất trí về phác thảo cơ bản của dự thảo khung.


Sau đó đã được thảo luận tại JWG-DOC lần thứ 20 ở Siem Reap, Campuchia, vào ngày 30/3/2017.


Dự thảo này đã được sửa đổi đôi chỗ trong các cuộc họp SOM-DOC ở Quý Dương, Quý Châu, Trung Quốc vào tháng 5/2017. Và đến tháng 8/2017, “Dự thảo khung COC” mới được thông qua.


Nhưng giá trị ràng buộc về mặt pháp lý của COC được đề xuất cho đến nay vẫn chưa được làm rõ.


Trung Quốc thì cho rằng COC vẫn là một văn kiện chính trị, trong khi đó, một số thành viên ASEAN, đặc biệt là các nước có liên quan trực tiếp đến vấn đề tranh chấp Biển Đông, đã đề nghị COC phải là một thỏa thuận ràng buộc pháp lý và phải được đề cập một cách toàn diện và hiệu quả hơn DOC, vốn chỉ là một tuyên bố chính trị.


Cụ thể là: ngoài các điều khoản chi tiết và cụm từ “có tính ràng buộc về mặt pháp lý”, có một vài vấn đề quan trọng không được đưa vào thỏa thuận.


Một là, dự thảo khung này không đề cập đến phạm vi địa lý của COC.


Hai là, trong khi văn bản này đề cập đến “các cơ chế giám sát việc thực thi”, nó lại không nói gì đến các biện pháp chế tài trong trường hợp nếu một bên cáo buộc một bên khác vi phạm bộ quy tắc này…


Tuy vậy, ngày 3/8/2018, tại Singapore, Ngoại trưởng của 10 quốc gia thành viên ASEAN cùng người đồng cấp Trung Quốc đã thống nhất về một “Văn bản Đàm phán Dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông Duy Nhất”, được coi là một “tài liệu sống” để các Bên tiếp tục trao đổi kỹ hơn một số nội dung còn có ý kiến khác nhau đó là:


1. Về Phạm vi điều chỉnh của COC: Có thể nói đây là nội dung cốt lõi của COC, nếu không muốn nói, nếu không xác định phạm vi điều chỉnh thì COC sẽ không bao giờ được thông qua hoặc nếu vì một lý do nào đó COC vẫn được thông qua mà không có nội dung này thì nó chẳng có ý nghĩa và giá trị pháp lý gì, thậm chí càng làm cho tình trạng tranh chấp trên Biển Đông phức tạp thêm.


2. Về cơ chế giải quyết tranh chấp: Đây cũng là một nội dung thể hiện trong Văn bản còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau và sẽ tiếp tục gây tranh cãi trong đàm phán sắp tới.


3. Về nghĩa vụ hợp tác: Về cơ bản, Văn Bản đã sử dụng các quy định của UNCLOS 1982, rằng các quốc gia ký kết có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển trong một biển nửa kín và trong khi đang chờ giải quyết tranh chấp, các quốc gia ký kết cần tham gia vào những thoả thuận có tính thực tiễn.


4. Về nội dung “Tự kiềm chế/Thúc đẩy lòng tin và sự tín nhiệm”: Trung Quốc đề xuất “Các Bên sẽ thiết lập một cơ chế thông báo các hoạt động quân sự, và thông báo cho nhau các hoạt động quân sự chính nếu thấy cần thiết.


Các Bên không được tập trận chung với các nước ngoài khu vực, trừ khi các bên liên quan đã được thông báo trước và không phản đối.


5. Về vai trò của bên thứ ba: Trung Quốc chủ yếu nhằm ràng buộc các quốc gia thành viên ASEAN ký kết COC phải hạn chế, nếu như không phải là loại trừ hoàn toàn sự tham gia của các bên thứ ba.


Có thể nói, đây là chủ trương xuyên suốt “phi quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông mà Trung Quốc đã và đang theo đuổi.


6. Về tính chất của COC: Văn Bản chưa có quy định nào cho thấy COC là một Hiệp ước theo luật quốc tế.


Nếu các Bên đàm phán không nhất trí được 6 nội dung nói trên thì chúng tôi tin rằng COC sẽ khó có thể được ký kết theo đúng thời hạn mà Thủ tướng Lý Khắc Cường đã hứa hẹn.


Theo chúng tôi, để thống nhất được các nội dung nói trên, các Bên đàm phán không chỉ dựa vào quyết tâm chính trị mà điều tiên quyết theo chúng tôi phải trên tinh thần thượng tôn pháp luật, phải dựa vào các quy định của UNCLOS 1982, không được tùy tiện giải thích và áp dụng sai UNCLOS 1982.


Chẳng hạn, khi bàn về vai trò của Bên thứ 3 trong COC, thiết nghĩ không nên xuất phát từ lợi ích của riêng mình, bất chấp luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.


Như mọi người đều biết, Biển Đông, ngoài phạm vi các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS 1982, còn có vùng Biển Cả (High Sea) - Biển Quốc tế - mà tại đó tất cả các quốc gia dù có biển hay không có biển, đều được hưởng các quyền đặc trưng như quyền khai thác các tài nguyên sinh vật và không sinh vật, quyền tự do hàng hải và hàng không, với điều kiện tuân thủ các quy định liên quan của UNCLOS 1982.


Về quy chế pháp lý, các quốc gia bên ngoài khu vực và các quốc gia ASEAN không tiếp giáp Biển Đông, được thực thi bình đẳng các quyền tự do này tại Biển Đông…


Như vậy, có thể khẳng định rằng Bên thứ 3 phải được coi vừa là chủ thể, vừa là đối tượng thi hành của Bộ quy tắc ứng xử có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với tất cả các Bên liên quan.


Hơn nữa, trong quan hệ quốc tế, các quốc gia ven Biển Đông có quyền hợp tác với bất kỳ quốc gia nào trên tất cả các lĩnh vực, kể cả lĩnh vực an ninh, quốc phòng, trong phạm vi các vùng biển và thềm lục địa thuộc các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà không cần phải thông báo hay được sự đồng ý của bất kỳ quốc gia, tổ chức, cá nhân nào.


Tất nhiên, phải trong khuôn khổ tuân thủ các quy định của UNCLOS 1982 và không vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của các quốc gia khác, không đe dọa và gây tổn hại đến an ninh, quốc phòng của các quốc gia khác…


Cũng như nguyên vọng chung của dư luận, trong tình hình tranh chấp căng thẳng và phức tạp hiện nay, chúng tôi luôn luôn hy vọng COC sẽ được ký kết càng sớm càng tốt, thậm chí sẽ được ký kết chỉ trong nay mai, chứ không phải chờ đến 3 năm như tuyên bố của ông Lý Khắc Cường.


Tuy nhiên, căn cứ vào những diễn biến của tiến trình xây dựng COC mà chúng tôi vừa đề cập nói trên, thiết nghĩ chúng ta có thể có căn cứ để làm chủ được những cảm xúc của mình, sao cho những phản ứng và hành xử của mình được đúng đắn và thích hợp nhất, có lợi cho công cuộc đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia; đồng thời góp phần vào việc bảo vệ hòa bình, duy trì an ninh, tăng cường hợp tác, phát triển của khu vức và thế giới.


Tài liệu tham khảo: 


- ASEAN thảo luận về tiến trình xây dựng COC (Thế giới và Việt Nam, ngày 16/4/2017).


- Quan chức cao cấp ASEAN thảo luận về tiến trình xây dựng COC (Đại Đoàn kết, 17/3/2017).


- TQ nói 'đã đạt dự thảo Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông' (BBC tiếng Việt, 8/3/2017).


- QPTD - Thứ Tư, 01/08/2012, Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) – nhân tố quan trọng đảm bảo an ninh, ổn định cho khu vực.


- Căng thẳng trước đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (ANTD, 9/2/2017).


- Nguyễn Thị Thanh Hà, Chuyên viên Liên Hợp Quốc và Nguyễn Đăng Thắng, Nghiên cứu sinh Vương quốc Anh : “Một số suy nghĩ về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông”. NCBĐ, Chủ nhật, 15 Tháng 5, 2011.


Tiến sĩ Trần Công Trục


Mời quý bạn đọc quan tâm đón đọc phần 2: Phán quyết Trọng tài khiến Trung Quốc đổi sách lược, núp bóng COC.


TIẾN SỸ TRẦN CÔNG TRỤC