Tưởng niệm 50 năm nền Đệ I VNCH của TT Ngô Đình Diệm sụp đổ: Triệu người vui, triệu người buồn. / Đọc các bài viết về 2 ông Diệm Nhu và bà Trần Lệ Xuân

05 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 12230)

Tường thuật tại chổ

Thánh lễ cầu hồn và Buổi Tưởng Niệm Cố TT Ngô Đình Diệm tại tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ Westminster

 Bài và hình: Thanh Phong/Viễn Đông

image012

Thánh lễ cầu hồn cho cố TT Ngô Đình Diệm trong Thành lễ tại nhà thờ Saint Barbara.

 

LITTLE SAIGON. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày cố Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm hy sinh vì Độc lập và Chủ quyền Quốc Gia, một Thánh lễ cầu hồn cho cố TT được cử hành vào lúc 10 giờ sáng ngày 02.11.2013 tại thánh đường Saint Barbara, thành phố Santa Ana, và vào lúc 1 giờ 30 chiều cùng ngày, một buổi Tưởng Niệm cố Tổng Thống và các chiến sĩ Quân, Dân, Cán, Chính VNCH đã hy sinh vì lý tưởng quốc gia được tổ chức hết sức trang trọng tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster.

 

Mỗi năm càng có nhiều tổ chức, hội đoàn và cá nhân tham gia Ban Tổ Chức lễ Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Năm nay một Ủy Ban Tổ Chức gồm đại diện: Cộng Đồng: Người Việt Quốc Gia Nam Cali, CĐ Người Việt Tỵ Nạn Los Angeles; CĐ Người Việt Liên Bang Hoa Kỳ; CĐ Người Việt Pomona; CĐ Người Việt San Diego; CĐ Công Giáo Việt Nam và trên 30 Đoàn thể, Hiệp Hội tại miền Nam Cali. Đặc biệt có nhiều hội đoàn trẻ như Tổng Hội Sinh Viên miền Nam Cali, Đoàn Thnah Niên Phan Bội Châu,, Giới trẻ Công Giáo, Hội Anh Em Yêu Nước, Đoàn Thanh Thiếu Niên Thủy Quân Lục Chiến, Trường Quân Đội QTD International; Hội Phụ Nữ Vì Nhân Quyền.

 

Thánh lễ cầu hồn cho cố TT Ngô Đình Diệm do Linh mục Đỗ Thanh Hà chủ tế, các Linh mục Vũ Ngọc Long, Vũ Hân, Nguyễn Đức Minh, Vũ Đảo cùng và Phó Tế Nguyễn Ánh cùng đồng tế. Trong bài chia sẻ , Linh mục Vũ Đảo đã nhắc lại một chút lịch sử về hai quốc sĩ Công giáo đã làm rạng danh cho Giáo Hội và cho dân tộc Việt Nam, đó là cụ Ngô Đình Khả và ông Nguyễn Hữu Bài. Từ tấm gương của các người cha đó, con cháu sau này là anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã biết noi gương của cha ông, hy sinh bản thân, hết lòng phục vụ, vì dân vì nước. Theo Linh mục, được như vậy là do các ngài đã hấp thụ đức bác ái và giáo lý Công giáo, người cha làm tròn bổn phận người cha, người con làm tròn bổn phận người con. Vì thế, Linh mục khuyên tất cả tín hữu, mỗi người hãy làm tròn bổn phận của mình, sống xứng đáng với vai trò của mình, và luôn luôn hết lòng phục vụ mọi người, đem yêu thương và tha thứ đến với mọi người, đồng thời cầu nguyện cho linh hồn Gioan Baotixita cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, các bào đệ của người và các chiến sĩ QL/VNCH đã hy sinh vì tổ quốc.

 

image014

Gs Lê Tinh Thông trên diễn đàn nhà thơ Saint Barbara, Quận Cam. Ảnh Thanh Phong

 

Cuối thánh lễ, giáo sư Lê Tinh Thông, đại diện Hội Người Việt Quốc Gia lên cám ơn qúy Linh mục, tu sĩ, Hội Columbus, Ca Đoàn Vui Mừng và Hy Vọng, Ban Chấp hành Cộng Đoàn Saint Barbara, anh em cựu chiến sĩ QL/VNCH và đồng hương đã đến tham dự thánh lễ giỗ cố TT hôm nay, Giáo sư Thông cũng nhắc lại câu nói của Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch. Ngay khi được tin TT Ngô Đình Diệm bị sát hại, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch đã phải thốt lên: “Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề về vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp..Tôi khâm phục ông Diệm, ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu. Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm nữa mới tìm được một người lãnh tụ cao qúy như vậy”.

 

Tại tượng Đài Chiến Sĩ: Buổi lễ do Đại Tá Lê Văn Trang chủ tọa. Bên cạnh có Nghị sĩ Lê Châu Lộc cựu Tùy Viên cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tham dự có rất đông cựu sĩ quan từ cấp Đại tá trở xuống và các quân nhân QL/VNCH, CSQG, Cán Bộ XDNT, Ban Tù Ca Xuân Điềm, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, Hội Bà Triệu cùng rất nhiều hội đoàn, đoàn thể. Quốc Quân Kỳ, Lệnh kỳ và di ảnh cố Tổng Thống được rước lên lễ đài giữa hai hàng quân thuộc Hải Lục Không Quân, CSQG mặc quân phục chào kính.

 

Về quan khách có Thị Trưởng Tạ Đức trí và các nghị viên thành phố Westminster,ông Michael Võ, Phó Thị Trưởng Fountain Valley, đại diện TNS. Lou Correa và đại diện một số Dân biểu Liên bang cũng như Tiểu bang. Sau lời chào mừng của ông Nguyễn Mạnh Chí, Trưởng Ban Tổ Chức, gần 50 vòng hoa của các Hội đoàn, đoàn thể lần lượt rước lên đặt xung quanh lễ đài. Sau đó, Hội Đền Hùng Hải Ngoại làm nghi thức tế lễ cổ truyền. Vị chủ tọa buổi lễ cùng một số quan khách và đại diện giới trẻ phát biểu, nêu cao tinh thần bất khuất của chí sĩ Ngô Đình Diệm mà ngày nay, các hồ sơ mật đã lần lần phơi bày, cho thấy bọn Tướng lãnh phản trắc, chỉ vì tham tiền, ham địa vị mà phản bội đưa đến cái chết bi thảm cho cố Tổng Thống và anh em ông, khiến đất nước đi vào chỗ suy vong như ngày nay..Các vị phát biểu đều kêu gọi giới trẻ hãy noi gương chí sĩ Ngô Đình Diệm đem tài năng, đức độ của mình để cứu quốc hầu mang lại thanh bình, tự do, no ấm cho dân tộc Việt nam.

 

Nhân dịp này, Hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia có phát hành Đặc san trong đó rất nhiều tài liệu liên quan đến cái chết của cố TT Ngô Đình Diệm, và đặc biệt có bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc về cáo buộc chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo./.

 

++++++++++++++++

Đọc thêm các bài viết về hai ông Diệm Nhu và bà Trần Lệ Xuân:

Ngô Đình Diệm và cuộc chiến kiến quốc

Văn Cầm Hải

Texas Tech University, USA

BBC - thứ sáu, 1 tháng 11, 2013

image015

Tổng thống Ngô Đình Diệm hồi năm 1955, ít phút sau một âm mưu ám sát ông

Đã tròn năm thập kỷ trôi qua kể từ khi cố tổng thống Ngô Đình Diệm, người sáng lập Việt Nam Cộng Hòa bị ám sát trong một cuộc đảo chính quân sự với sự tiếp tay của Hoa Kỳ.

Trong mắt các sử gia phương Tây và Việt Nam thời hậu thuộc địa, Ngô Đình Diệm là một con rối của Mỹ, gắn liền ý nghĩa trong một cụm từ đầy mỉa mai và thóa mạ là “bè lũ Mỹ-Diệm”, và rằng chính phủ của Diệm cũng chỉ là một sự sáng tạo của Hoa Kỳ phục vụ cho mục đích địa chiến lược trong Chiến tranh lạnh.

Diệm cũng được miêu tả như là một sản phẩm truyền thống của đạo Thiên Chúa và Khổng Giáo, đại diện cho sự hòa trộn giữa tư tưởng phương Tây và phương Đông trong tiến trình xây dựng một chính quyền chống cộng sản ở Đông Nam Á.

Phủ nhận những quan điểm này, trong Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam ( tạm dịch: Cuộc hôn nhân không tương xứng: Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ, và số phận Miền nam Việt Nam), Miller đưa ra một cách giải thích mới về Ngô Đình Diệm và mối quan hệ của ông ta với Hoa Kỳ, được soi sáng từ những điểm nhìn văn hóa chính trị của Việt Nam.[1]

Đóng góp nổi bật nhất của tác giả là cung cấp một sự diễn giải tinh vi và công phu về mối xung đột giữa Diệm - Chiến lược kiến quốc của ông, và phía đồng minh Hoa Kỳ.

 

Ngô Đình Diệm là một nhà trị quốc hiện đại

Tác giả đã khẳng định rằng vị lãnh đạo của nền Đệ nhất Cộng hòa là một nhà trị quốc hiện đại với những viễn kiến riêng và mới mẻ về quốc gia, khác xa với quan điểm của Hoa Kỳ.

Dù cùng chung mục tiêu chống Cộng sản nhưng hai đồng minh vẫn thường xuyên xảy ra những bất đồng, tạo nên những xung đột và cạnh tranh liên quan đến những vấn đề cốt lõi mà Miller gọi là: “Nguyên lý kiến quốc”, vốn đã hình thành và chi phối toàn bộ lịch sử quan hệ đồng minh giữa Hoa Kỳ và Diệm từ lúc mới hình thành cho đến lúc lụi tàn, biểu hiện cho cuộc xung đột giữa các sứ mệnh của nền văn minh hơn là giữa các nền văn minh.

Nghiên cứu quá trình xung đột từ góc nhìn chính trị và luân lý, quốc gia và cá nhân, đặt nó trong bối cảnh lịch sử của Việt Nam và quan hệ quốc tế của Hoa Kỳ, Miller đã phô bày những va chạm trong nhận thức và động lực về tư tưởng chính trị, chiến lược quân sự, khủng hoảng tôn giáo, và chương trình xây dựng kinh tế xã hội ở vùng nông thôn.

Sự xung khắc này không chỉ làm cho liên minh Mỹ-Diệm sụp đổ vào năm 1963 mà còn góp phần làm thay đổi kết quả cuộc chiến.


Tư tưởng chính trị và tôn giáo của Diệm

"kế thừa tinh thần quốc gia mạh mẽ và lòng mộ đạo Thiên chúa của người cha Ngô Đình Khả, Diệm đã trở thành một nhà yêu nước nhiệt thành, chiến đấu cho quyền lợi của dân tộc. "

Tác giả dẫn lời cây viết Miller

Theo Miller, kế thừa tinh thần quốc gia mạnh mẽ và lòng mộ đạo Thiên chúa của người cha Ngô Đình Khả, Diệm đã trở thành một nhà yêu nước nhiệt thành, chiến đấu cho quyền lợi của dân tộc.

Hoạt động đối lập với chính quyền thuộc địa Pháp, từ chức Thượng Thư Bộ Lại trong chính phủ Bảo Đại, tôn sùng Phan Bội Châu và kiến thức về đạo Khổng của nhà nho yêu nước này, thông cảm và ủng hộ với tổ chức Chấn Hưng Dân Tộc của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, thành lập lực lượng thứ ba để vận động những người theo quốc gia, chống cộng sản kết nối lại thành một liên minh đấu tranh cho một đất nước Việt Nam của người Việt Nam, và cuối cùng là bỏ qua mối thù cá nhân của gia đình để sẵn sàng hợp tác với chính phủ Việt Minh của Hồ Chí Minh, mọi nỗ lực của Diệm đã đã minh chứng rằng ông là một “nhà hộ quốc tận tụy của nước Việt” (27)

 

Ngô Đình Diệm không được Mỹ ủng hộ trong năm 1954

Miller, bằng việc lột bỏ những thiên kiến chống lại Diệm trong năm mươi năm qua, khẳng định rằng quan điểm của ông không phải được sinh ra từ sự mờ mịt, hay những ảo niệm được dựng lên bởi Hoa Kỳ vào năm 1954.

Diệm thực sự là một trong những nhân vật xuất chúng và năng động nhất trong số các nhà chính trị ở Đông Dương.

Và vì vậy ông đã được bổ nhiệm vào chức vụ Thủ tướng của nước Việt Nam bởi chính sự quyết định của cựu hoàng Bảo Đại.

Tác giả lưu ý, hầu hết các cứ liệu cho rằng Diệm được sự hỗ trợ của cộng đồng Thiên chúa giáo Hoa Kỳ, đứng đầu là hồng y Francis Spellman, hay bởi sự vận động bí mật của CIA, sự ủng hộ của các quan chức Bộ ngoại giao Hoa Kỳ như John Foster Dulles… là thiếu thuyết phục vì không có chứng cứ xác đáng.

Miller thấy rằng những tài liệu giải mật của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ chỉ nói lên được một hiểu biết mơ hồ về Diệm cho đến tháng 5/1954. Theo Miller, Bảo Đại quyết định chọn Diệm vào chức vụ Thủ tướng là bởi ông hoàng này công nhận rằng Diệm “là một người tốt nhất cho công việc, bởi vì sự không khoan nhượng và sự cuồng tín của mình, ông ấy có đủ năng lực để chống lại chủ nghĩa cộng sản... Ông ấy thực sự là một người rất thích hợp với hoàn cảnh hiện tại.”

Diệm đã chứng minh lời của quốc trưởng nhận xét về năng lực của mình là không sai. Trong thời kỳ hậu hiệp định Geneva, phớt lờ chiến lược hòa giải và cải tổ của Hoa Kỳ, Diệm đã trấn áp và dẹp tan những đối thủ chính trị của Diệm mà không có bất kỳ một sự thỏa hiệp nào để kiểm soát thành công quân đội quốc gia, giành lấy quyền lực từ những viên tướng thân Pháp, thực hiện chương trình kiến quốc của ông.

Những kiến giải của Miller về thời kỳ này không những đưa ra một sự hiểu biết mới về Diệm, mà còn thách thức các nhà sử học nhận thức lại lịch sử quan hệ Mỹ-Diệm ngay từ buổi đầu.

 

Bất đồng về quan điểm dân tộc và dân chủ

Diệm tự xem mình vừa như một tấm khiên phòng thủ, đồng thời là ngọn giáo tấn công những đe dọa đối với hệ thống chính trị ở Nam Việt Nam, bao gồm độc lập, lợi ích quốc gia, bổn phận đạo đức kết thành nền tảng của dân chủ và đời sống dân sự trong một quốc gia.

Khác với những công trình nghiên cứu lịch sử chiến tranh Việt Nam khác, Miller đã khai phá một cách nhìn mới về chủ nghĩa dân tộc của Diệm.

Diệm không phải là một thuyết gia truyền thống, cũng không phải là một viên quan thuộc địa phản động. Ông là một nhà chính trị xảo trí và là một nhà lãnh đạo “dân chủ” với một đường lối chấn hưng đất nước dựa trên cơ sở gắn kết có chọn lọc tư tưởng Thiên Chúa giáo, Khổng giáo, và sự đặc trưng chủ nghĩa dân tộc của Việt Nam.

Vận dụng văn hóa Việt Nam để làm rõ quan điểm chính trị và tôn giáo của Diệm, Miller chỉ ra cách nhìn của Diệm về giá trị của dân chủ và sự phát sinh của những giá trị đó từ quan niệm dân chủ truyền thống mang tính bản địa của người Việt hơn là từ quan điểm tự do thuần túy của phương Tây.

Thấm nhuần những chuẩn mực, phẩm hạnh của triết lý xã hội như ý thức tự lập, tự hoàn thiện, và hiến dâng cho lợi ích cộng đồng của đạo Khổng, vốn được xem là phù hợp với quan điểm chủ nghĩa nhân vị của triết gia Thiên chúa giáo Emanual Monier, Diệm tin rằng: “ Dân chủ trước hết là một trạng thái tinh thần, một lối sống tôn trọng bản thân chúng ta và người khác.” Như vậy, thay vì kết nối dân chủ với tự do dân sự, Diệm diễn tả nó như một quá trình tiến bộ của xã hội tập thể.

Tổng thống Diệm cố gắng hiện đại hóa và liên kết những tư tưởng chính trị-tôn giáo này với chương trình kiến quốc đương thời khi ông tuyên bố rằng: “Chúng ta sẽ không quay lại phiên bản vô ích của quá khứ quan lại, mà sẽ áp dụng những gì tốt nhất của di sản vào tình hình hiện đại."

Quan niệm dân chủ của Diệm đã mâu thuẫn với Học thuyết Dân chủ của Mỹ. Miller kết luận “Diệm tìm cách định nghĩa dân chủ như một đặc tính xã hội dựa vào bổn phận đạo đức luân lý. Định nghĩa này quá khác xa với quan điểm của những thuyết gia người Mỹ khi họ quan niệm dân chủ là một hình thái đa nguyên chính trị.


Bất đồng về chương trình xây dựng nông thôn

Sự bất đồng tư tưởng này đã khuấy đục liên minh Mỹ-Diệm trong quá trình triển khai một trong những chương trình kiến quốc quan trọng nhất: phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, với mấu chốt của vấn đề là giải quyết tình trạng dư thừa dân số bằng cách di dân.

Giải pháp này, như tác giả phân tích, là phân bố lại dân số hơn là phân bố đất đai. Việc di dân đến vùng đất mới không chỉ cung cấp đất cho người dân, mà còn là tiền đề mở rộng các mục tiêu kinh tế, an ninh, và tư tưởng do Diệm vạch ra.

Trên bình diện quốc gia, Diệm khởi động chương trình tự cung tự cấp như là một đặc trưng trong viễn kiến của Diệm về phát triển cộng đồng để phát động sự tham gia tự giác và đóng góp của toàn dân vào những mục tiêu công ích của nhà nước.

image016

Ông Diệm bất đồng với người Mỹ về cách điều hành miền nam

Kế hoạch dinh điền của Diệm không tránh khỏi sự phàn nàn từ phía Mỹ.

Đối với Mỹ, trung tâm của chính sách cải cách ruộng đất là phân bố ruộng đất cho người không có, tạo ra những điều kiện và cơ hội để họ nâng cao và triển khai những dự án hơn là bóc lột sức lao động của họ cho việc xây dựng nhà nước.

Miller đã phân tích rất sâu sắc sự khác biệt của hai trường phái kiến quốc của Mỹ sau thế chiến thứ II bao gồm chủ nghĩa tân thời cao cấp, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của khoa học và kỹ thuật, và chủ nghĩa tân thời bậc thấp chú trọng vào các chương trình phát triển ở phạm vi hẹp mang tính địa phương.

Cả hai trường phái này đều không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, bởi vì Hoa Kỳ không thể Tây hóa lối sống và điều kiện kinh tế xã hội của người Việt.

Ngô Đình Nhu tuyên bố rằng công nghiệp hóa và sự thay đổi kinh tế chỉ có thể đến với miền Nam Việt Nam sau khi họ có thể rời xa một cách dứt khoát xã hội truyền thống với ý nghĩ, tổ chức và kỹ thuật mà chúng họ đã từng gắn kết.

Do vậy, dù đồng ý với quan điểm của Hoa Kỳ là cần cung cấp nguyên liệu sản xuất cho dân tái định cư, nhưng Diệm bảo lưu quan điểm của mình, rằng việc cung cấp tư liệu sản xuất không quan trọng bằng nghĩa vụ và bổn phận tự lập của cộng đồng.

Do đó ông sẵn sàng tiếp tục thực hiện kế hoạch mà không cần sự trợ giúp của Mỹ. Mối bất hòa về chương trình dinh điền, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn đã đẩy Washington và Saigon vào một tình trạng tồi tệ mới.

 

Bất đồng về chiến lược an ninh và quân sự

Chiến lược gìn giữ an ninh nội địa tập trung vào công cuộc chống nổi dậy ở vùng nông thôn nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của cộng sản luôn là mối bận tâm của chính quyền Diệm.

Miller chứng minh rằng không phải mọi hoạt động quân sự của Diệm đều do Mỹ điều khiển hoàn toàn, thậm chí còn xảy ra những bất đồng trong nội bộ Mỹ.

Về xây dựng lực lượng, ví dụ, phái bộ cố vấn của đại học Michigan (MSUG) muốn phát triển Lực lượng Bảo an như là một lực lượng cảnh sát dân sự, trong khi đó các cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) lại muốn lực lượng này là một mô hình bán quân sự hoạt động như một đội quân phụ trợ.

"Chiến lược gìn giữ an ninh nội địa tập trung vào công cuộc chống nổi dậy ở vùng nông thôn nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của cộng sản luôn là mối bận tâm của chính quyền Diệm. "

Còn với Diệm, Bảo an là một lực lượng lai ghép, kết hợp quyền lực của cảnh sát như quyền giám sát, giam cầm, và phản gián với năng lực quân sự.

Chỉ trích các giải pháp của cố vấn Mỹ không phù hợp với quan điểm của mình, cũng như hoàn cảnh an ninh của miền Nam Việt Nam, Diệm tiếp tục củng cố và phát triển lực lượng Bảo an như một nhân tố chính trong cuộc chiến chống lại chiến tranh du kích.

Là một cựu quan chức có nhiều trải nghiệm về cách trị dân, hơn ai hết, Diệm hiểu rằng: để cai quản vùng nông thôn cần kết hợp các giải pháp chính trị, quân sự, xã hội và kinh tế.

Do đó, Diệm thành lập Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ như là một cơ quan thiết kế, quản lý, và điều khiển các chương trình phát triển cộng đồng.

Tuy nhiên, ý tưởng của Diệm không giống với hoạch định từ phía Mỹ, đặc biệt là về mục tiêu chương trình Ấp Chiến Lược.

Với các cố vấn Mỹ, một giá trị phổ quát của nền dân chủ đa nguyên là yếu tố chính mang lại thành công của chương trình, cũng như kết quả của cuộc chiến.

Ngược lại, Diệm không bao giờ có quan điểm Dân chủ là một sự cạnh tranh mang tính đa nguyên giữa các đối thủ, đảng phái, và tư tưởng.

Thay vì vậy, Diệm cho rằng nền móng dân chủ của ấp chiến lược là huy động sức mạnh toàn thể dân chúng tham gia vào cuộc chiến chống lại kẻ thù của chế độ.

Miller không thể không thừa nhận rằng dù có nhiều khiếm khuyết và bất cập, nhưng Ấp Chiến Lược là một chương trình thành công, tạo nên một bước ngoặt đáng ghi nhận trong cuộc chiến chống lại cộng sản ở miền Nam, mang lại hy vọng cho một chiến thắng chung cuộc. Trận Ấp Bắc vào tháng 1/1963 vẫn không dập tắt sự lạc quan của Diệm, vì vậy họ Ngô đã ra lệnh cho Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ chuẩn bị kế hoạch Bắc tiến, chiếm lại miền Bắc Việt Nam.

Và cuối cùng, Diệm muốn Mỹ viện trợ vũ khí và các nguyên vật liệu khác nhưng không chấp nhận sự việc các cố vấn Mỹ can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam.


Khủng hoảng phật giáo và bất đồng về chính sách kiến quốc

Số phận và kế hoạch của họ Ngô đã bị chặn đứng bởi cuộc khủng khoảng Phật Giáo.

Nổi bật giữa các sử gia về chiến tranh Việt Nam, Miller nghiên cứu cuộc khủng khoảng Phật giáo năm 1963 như là một sự phát triển trong dòng chảy lịch sử của quá trình chấn hưng Phật giáo, vốn đã diễn ra trong những năm 1910 và 1920 của thế kỷ 20.

Miller đưa ra một cái nhìn mới về phong trào Phật giáo trong kỷ nguyên của Diệm, rằng nó không chỉ đấu tranh cho sự bình đẳng tôn giáo và tự do tín ngưỡng, mà thực sự là nó còn bộc lộ sự lo lắng sâu sắc về sách lược kiến quốc của Diệm, đặc biệt là về cuộc cách mạng nhân vị điều mà giới Phật tử thấy như là mối đe dọa đến việc làm hồi sinh sức mạnh Phật giáo Việt Nam.

image017

Ông Ngô Đình Diệm duyệt đội lính nhân một dịp kỷ niệm ngày lập quốc ở miền nam

Theo quan điểm của Miller, Phật giáo đã tham gia vào một cuộc cách mạng tự do dân tộc và hiện đại hóa như một sự đóng góp vào tiến trình kiến quốc.

Cuộc xung đột giữa Diệm và Phật giáo đã đẩy cuộc chiến kiến thiết quốc gia lên đỉnh điểm.

Diệm, cho đến phút cuối cùng vẫn tin rằng ông ta sẽ giải quyết sự xung đột này từ vị thế thượng phong như cách anh em ông nghĩ khi bắt đầu mở kênh đối thoại bí mật với cộng sản Bắc Việt.

Nhưng Diệm không bao giờ có thể vãn hồi trật tự như sự trả lời kiên cường và cứng rắn của ông với đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge, vì anh em ông đã bị hạ sát bởi chính những viên tướng phản bội.

Miller kết luận rằng: những vấn đề của sự bất đồng không đơn giản bắt nguồn từ lời tuyên bố thâm thúy và khó hiểu về cuộc cách mạng nhân vị của anh em nhà Ngô.

Chúng bắt nguồn từ mối bất hòa trong thực tế giữa nhà họ Ngô và Mỹ về những ý niệm chính như dân chủ, cộng đồng, an ninh, và cách mạng xã hội.

Khiếm khuyết của cả Diệm và đồng minh Mỹ là sự miễn cưỡng trong việc hợp tác với các phong trào cách mạng ở miền Nam.

 

Hồ Chí Minh: Ngô Đình Diệm là một nhà ái quốc

Misalliance của Miller đã thành công khi soi sáng một cái nhìn mới về Diệm và chương trình kiến quốc mang đậm tính dân tộc chủ nghĩa và độc lập trong nhãn quan chính trị của ông.

image018

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi ông Diệm là "nhà yêu nước"

Những tác phẩm trong tương lai không thể bỏ qua những luận điểm của Miller rằng chính sự xung đột nảy sinh từ nhận thức sai lệch đã hình thành mối quan hệ đầy thăng trầm của Mỹ - Diệm và cả số phận miền nam Việt Nam.

Sau năm mươi năm, hình ảnh nhân vật lịch sử Ngô Đình Diệm dần được sáng tỏ trong mắt các sử gia Mỹ.

Đáng tiếc là tại Việt Nam, việc nghiên cứu về ông vẫn là một đề tài cấm kỵ.

Phải chăng, không đi theo chủ nghĩa cộng sản là không phải người Việt yêu nước? Vậy tại sao Hồ Chí Minh lại tuyên bố Ngô Đình Diệm là một nhà ái quốc?

Những người cộng sản Việt Nam không ngờ, Hồ Chí Minh, lãnh tụ của họ đã có một cái nhìn khác về đối thủ chính trị ở miền Nam.

Trong một lần gặp gỡ nhà ngoại giao Ấn độ Ramcohundur Goburdhun, chủ tịch Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến Đông Dương, ở Hà Nội vào năm 1962, Hồ đã xem Ngô Đình Diệm là một “nhà yêu nước” và nhắn gửi với Goburdhun rằng: “Hãy bắt tay ông ấy [Diệm] giùm tôi nếu như ngài gặp ông ấy.”

Chỉ có những đối thủ xứng tầm nhau mới dành cho nhau lời nhận xét xứng tầm như vậy. Quan điểm của Hồ được nhà sử học Edward Miller lưu tâm vì nó đã gợi lên cho người đọc một cách nhìn khác lạ nhưng không xa lạ về Diệm, một nhân vật chính trị nổi bật và không thể thiếu được khi đề cập đến lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 20.

Việt Nam vừa tổ chức một lễ quốc tang trọng thể cho tướng Giáp, trong khi nhân vật chính trị và quân sự lớn cùng sinh ra từ quê hương Lệ Thủy, Quảng Bình với tướng Giáp - Cố tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn chưa được trả lại tên thật trên mộ phần.

Sự thật lịch sử về Diệm, cho dù còn nhiều tranh cãi, là “ một lãnh đạo độc tài với chế độ gia đình trị hay là một tổng thống ái quốc” cần phải được trả lại đúng nguyên vị của nó.

[1]Edward Miller, Misalliance: Ngo Dinh Diem, the United States, and the Fate of South Vietnam(Cambridge: Harvard University Press, 2013) Bài do tác giả gửi cho BBC qua điện thư và thể hiện văn phong và cách nhìn cá nhân của tác giả.

 

Giáo dân ở VN viếng ông Ngô Đình Diệm

BBC - thứ bảy, 2 tháng 11, 2013

image019

Lễ viếng Tổng thống Ngô Đình Diệm tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ngày 1/11

Ngày 1/11, hàng chục người đã công khai đến viếng mộ cố Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm nhân 50 năm ngày mất của ông tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Lái Thiêu, Bình Dương.

Thông tin từ trang chuacuuthe.com cho biết buổi lễ có sự góp mặt của các giáo dân ở miền Nam và do cha Antôn Lê Ngọc Thanh chủ trì.

Blogger Nguyễn Hoàng Vi, người đi dự buổi lễ, nói với BBC trước đó đã nhận được thông báo về thời gian và địa điểm tổ chức lễ viếng từ linh mục Thanh.

Lực lượng an ninh đã có mặt để theo dõi và giám sát, nhưng không gây khó dễ gì cho khoảng 50-60 người đến dự, blogger này cho biết thêm.

Hình ảnh được đăng tải trên tài khoản Youtube của Dòng chúa Cứu thế Việt Nam cho thấy nhiều giáo dân và các cha xứ đứng chắp tay và mang theo hoa, vây quanh phần mộ của ông Ngô Đình Diệm và em trai ông, Ngô Đình Nhu.

Trong bài phát biểu được ghi hình, linh mục Thanh cũng lên tiếng phản đối cách nhìn về Tổng thống Diệm trong chương trình lịch sử của Việt Nam ngày nay.

"Hiện nay, trong chương trình môn sử thuộc bậc đại học cũng như trung học, khi nhắc đến ông Diệm, họ vẫn lên án ông là một người độc ác và phản quốc," ông nói.

"Tuy nhiên, cả các học sinh cũng lười biếng nghiên cứu, tìm hiểu, cuối cùng làm cho xã hội nối tiếp nhau cả một sự gian dối".

"Khi nhà cầm quyền không dám đối diện và trung thực với sự thật lịch sử thì sẽ làm cho đất nước Việt Nam ngày càng trở nên gian dối và băng hoại nhân cách con người, vì nhân cách con người không thể xây dựng khi không có nền móng.”

 

'Chấp nhận cái chết'

Linh mục Thanh cũng nói Tổng thống Diệm đã chống lại lời khuyên đánh phủ đầu các tướng lĩnh muốn đảo chính và chấp nhận cái chết của mình.

"Biến cố chúng ta kỷ niệm ngày hôm nay là ngày ông Ngô Đình Diệm, và cố vấn Ngô Đình Nhu bị sát hại vì chủ trương tuyệt đối không cho một quân ngoại bang nào được quyền chi phối đất nước Việt Nam," ông nói.

"Bối cảnh khi đó là người Mỹ muốn đưa quân vào, nhưng ông Diệm nói rõ là chúng tôi rất cần những người cố vấn, nhưng để lo liệu cho đất nước chúng tôi thì phải là người Việt."

"Vài ngày trước khi Tổng thống bị sát hại, ông Vỹ, một người thân cận với Tổng thống, đã xin lệnh đánh phủ đầu những nhóm [muốn đảo chính]".

"Tổng thống trả lời tại sao lại lấy quân Việt Nam đi đánh quân Việt Nam?"

"Chết thì đã sao, không thể vì mình mà để huynh đệ tương tàn, quân đội náo loạn, quốc gia ngày càng suy kiệt."

 

Đi tìm sự thật

image021

"Là một người sinh sau năm 75, tôi học lịch sử về Tổng thống thì không có một ấn tượng gì tốt về ông hết. Có những sự thật về Tổng thống không như những người trẻ được học từ sách sử của mái trường xã hội chủ nghĩa."

Blogger Nguyễn Hoàng Vi

Blogger Nguyễn Hoàng Vi nói lý do cô dự lễ viếng vì muốn "đi tìm sự thật" về Tổng thống Ngô Đình Diệm.

"Là một người sinh sau năm 75, tôi học lịch sử về Tổng thống thì không có một ấn tượng gì tốt về ông hết," cô Vi nói.

"Có những sự thật về Tổng thống không như những người trẻ được học từ sách sử của mái trường xã hội chủ nghĩa."

Blogger cho biết nhóm của cô bắt gặp tại lễ viếng một cụ già 90 tuổi, người năm nào cũng đi từ Biên Hòa xuống viếng mộ Tổng thống Ngô Đình Diệm nhân ngày giỗ của ông.

"Ông nói là ông biết ơn Tổng thống", blogger này thuật lại. "Chắc chắn rằng k‎‎ý ức của ông cụ đó về Tổng thống Diệm phải rất tốt đẹp, ông mới không ngại đường xa và tuổi tác để đến viếng như thế."

"Tôi nghĩ rằng lớp trẻ nên đi tìm hiểu sự thật ngoài những gì mình được học, được đọc, qua những nhân chứng còn sống tới bây giờ như cụ già mà tôi gặp trong buổi lễ ngày hôm qua."/

 

Tại sao tưởng niệm ông Ngô Đình Diệm?

Đoàn Xuân Lộc

Gửi cho BBC từ Global Policy Institute, London

BBC - thứ bảy, 2 tháng 11, 2013

image021

Tổng thống Ngô Đình Diệm được cho là người có quan điểm chống lại sự chỉ đạo của Hoa Kỳ

Ngày 02/11/2013 là ngày tròn 50 năm ngày ông Ngô Đình Diệm, vị Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa, và bào đệ của ông là Cố vấn Ngô Đình Nhu, bị sát hại trong cuộc đảo chính năm 1963.

Và trong những ngày này tại Mỹ, Pháp và một số nước khác, cộng đồng người Việt Nam – trong đó có không ít người Công giáo – đã và sẽ tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện cho họ.

Riêng ở Việt Nam vào trưa ngày hôm nay (01/11), các Cha Dòng Cứu Thế cũng đã dâng lễ tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, ở Lái Thiêu, để cầu nguyện cho hai ông. Và có thể, trong các Thánh lễ ngày mai ở Việt Nam và như nhiều nơi khác, cũng có nhiều người nhắc tên và cầu nguyện họ.

Trong 50 năm qua đã có vô số tài liệu, bài viết bằng tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Pháp (của người Việt cũng như người nước ngoài, thuộc nhiều chính kiến khác nhau) về ông Ngô Đình Diệm, về cuộc đời, sự nghiệp hay về gia đình của ông. Trong số đó, có không ít ý kiến cho rằng ông là một vị tổng thống độc tài, bất lực và chế độ tổng thống của ông là chế độ gia đình trị.

Dư luận chung cũng không có ấn tượng tốt về ông, sự nghiệp của ông và gia đình ông, đặc biệt kể từ khi hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu giữa thành phố Sài gòn vào tháng 6 năm 1963. Biến cố ấy làm cho dư luận thế giới và người Miền Nam lúc ấy nói riêng có thêm ác cảm với ông và nó cũng là một lý do quan trọng dẫn đến sự thất bại của Đệ nhất Cộng hòa do ông thiết lập.

Việc ông bị ám sát hụt hai lần trước đó và bị đảo chính rồi bị ám sát năm tháng sau vụ tự thiêu ấy cũng chứng tỏ rằng ông có không ít kẻ thù, trong đó có những người từng là thuộc hạ, gần gũi với ông.

Hơn nữa, ông và gia đình ông bị nhiều người – trong đó có những ‘người thắng cuộc’, những người không cùng chung chuyến tiến với ông – ghét và bôi nhọ một phần vì ông và gia đình là những người chống Cộng, là những người ‘bại trận’.

Nhưng điều đó không có nghĩa là ông bị tất cả mọi người ghét bỏ hay không ai nhìn nhận, tôn trọng ông và những đóng góp của ông. Việc hàng năm và đặc biệt năm nay có nhiều người, nhiều nơi tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện cho ông chứng minh điều đó.

Câu hỏi đặt ra là tại sao vẫn có người yêu mến và tôn trọng ông?

 

Một người liêm khiết

"Dù có thể có nhiều học giả, các nhà nghiên cứu không đánh giá cao về ông, nhưng đa số đều nhận định rằng ông là một người trung thực, đạo đức, liêm khiết."

Dù có thể có nhiều học giả, các nhà nghiên cứu không đánh giá cao về ông, nhưng đa số đều nhận định rằng ông là một người trung thực, đạo đức, liêm khiết.

Trong cuốn ‘Cold War Mandarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America’s War in Vietnam: 1950-1963’, xuất bản năm 2006, Seth Jacobs – một trong những học giả nước ngoài viết khá nhiều về ông Ngô Đình Diệm và cũng có cái nhìn không mấy thiện cảm về ông – vẫn thừa nhận rằng ông là một người trong sạch, vô vị lợi. Vì theo tác giả này, thậm chí sau khi trở thành tổng thống, ông vẫn sống một cuộc sống khổ hạnh.

Một bài viết của James MCAllister và Ian Schulte có tựa đề ‘The Limits of Influence in Vietnam: Britain, the United States and the Diem Regime, 1959–63’, được đăng trong tạp chí Small Wars and Insurgencies, năm 2006, cũng cho rằng ông Diệm là một người liêm khiết, đức hạnh.

Theo cựu Đại tá Lý Trọng Song – nay là Phó tế vĩnh viễn (thường được gọi là Thấy Sáu Song), hiện đang giúp tại Cộng đoàn Công giáo London và người đã từng làm cận vệ cho ông Ngô Đình Diệm trong Phủ Thủ tướng và Phủ Tổng thống từ năm 1954 đến 1956 – ông là một người có lối sống rất đơn sơ, nghèo khó. Chẳng hạn, giường ngủ của ông chỉ là một cái divan (một tấm ván) trải bằng chiếu, không có nệm.

Có thể ngày hôm nay có không ít người cảm phục ông Diệm vì họ tìm ở nơi ông những đức tính đó – đặc biệt khi họ đọc và biết được tham nhũng đang trở thành quốc nạn tại Việt Nam.

Cũng theo cựu Đại tá Song, ông Diệm là một người có đầy đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín vì ông xuất thân từ một gia đình hiếu học, làm quan và chịu nhiều ảnh hưởng của cả Công giáo và Nho giáo.

Ông có đời sống khổ hạnh một phần cũng vì trong những năm 1940 và 1950, ông đã từng sống trong các đan viện tại Bỉ và Pháp. Một chi tiết được Thầy Sáu Song nêu ra để giải thích tại sao ông Diệm không lập gia đình – một điều nhiều người đặt câu hỏi về ông – là vì ông Diệm đã đi tu trong dòng Ba của dòng Benedicto, một dòng khổ tu ở Bỉ. Và vì đã khấn trong dòng này, ông không nghĩ tới chuyện lập gia đình và chỉ biết ‘thờ phượng, kính mến Thiên Chúa và lo cho quốc gia, dân tộc’.

Các tài liệu viết về ông, đặc biệt sách vở, báo chí nước ngoài, đều nhấn mạnh rằng ông là một người Công giáo đạo hạnh, thánh thiện. Đây cũng là một lý do tại sao trong những ngày này người Công giáo tưởng nhớ và cầu nguyện cho linh hồn ông – người có Tên Thánh là Gioan Baotixita (hay John Baptist theo tiếng Anh).

Hơn nữa, ông và ông Nhu bị ám sát vào ngày 02/11 – đúng ngày Giáo hội Công giáo tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người đã qua đời. Vì vậy, đâu đó có những Thánh lễ cho ông cũng là chuyện bình thường và là việc nên làm.

 

Một người yêu nước

image022

Hàng năm vẫn có người đến viếng mộ Tổng thống Ngô Đình Diệm trong nước

Một điểm khác về ông đều được nhiều người công nhận đó là ông là một người yêu nước, yêu dân tộc. Chẳng hạn, trong cuốn ‘Patriots and Tyrants: Ten Asian Leaders’ xuất bản năm 1999, Ross Marlay và Clark Neher, nhận định rằng cả ông và Hồ Chí Minh đều là những người yêu nước nồng nàn. Có điều định mệnh, thời cuộc và chính kiến đã biến họ thành kẻ thù của nhau.

Một chi tiết được các tài liệu đề cập đến khi viết về ông đó là việc ông từ chức Thượng thư Bộ lại (gần tương đương với chức Thủ tướng) trong chính phủ Bảo Đại năm 1933 để phản đối việc Pháp không tiến hành những cải cách cần thiết để trao thêm quyền tự trị cho Việt Nam.

Trong bài ‘Vision, Power and Agency: The Ascent of Ngô Đình Diệm, 1945-54’ – được coi là một trong những nghiên cứu quan trọng, trung thực về ông Ngô Đình Diệm – được đăng trên Journal of Southeast Asian Studies, Edward Miller nêu rằng trong thời gian ông Diệm nắm quyền (1954-63), có nhiều người ở Việt Nam và những nơi khác mô tả ông như là một con rối của Mỹ được Washington đưa lên nắm quyền và giúp đỡ nhằm thực hiện những mục đích của Mỹ trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh.

Nhưng theo tác giả này, các tài liệu được viết từ những năm 1960 trở về sau đều nhấn mạnh việc ông nhất quyết từ chối những lời khuyên của Mỹ và không muốn chịu sự chỉ đạo của Mỹ. Việc ông và chính quyền Mỹ cuối cùng chia tay nhau là một ví dụ.

Cựu Đại tá Lý Trọng Song cũng nhấn mạnh rằng Tổng thống Diệm chỉ muốn nhận viện trợ của Mỹ chứ không chịu sự áp đặt, can thiệp của Mỹ và nhất quyết từ chối cho lính Mỹ vào Miền Nam Việt Nam vì ông cho rằng cho quân đội nước ngoài chiếm đóng trên lãnh thổ Việt Nam làm cho chính phủ của ông mất chính nghĩa.

Cũng theo người cựu cận vệ này, ông Diệm là một người yêu dân, yêu nước, yêu dân tộc vì nếu không ông có thể chọn ra nước ngoài và tránh bị ám sát. Ông nhắc lại rằng trước những ngày diễn ra cuộc đảo chính, Đại sứ Mỹ ở Sài gòn lúc đó là Henry Cabot Lodge gọi điện thoại cho ông Diệm và ‘nói rằng nếu ngài muốn an toàn thì tới Tòa đại sứ’ và ông Diệm đã trả lời ‘đây là đất nước của tôi, tôi không đi đâu hết’.

Hơn nữa, cũng như Edward Miller nêu lên trong bài báo của mình, trong những giai đoạn 1945-54 ông bôn ba ở ngoại cũng chỉ vì muốn tìm con đường giúp đất nước thoát khỏi ách đô hộ của Pháp và giành tự do, độc lập. Trong cuốn sách của mình, Seth Jacobs cũng nêu lên rằng có thể người dân Miền Nam không thích ông như họ tôn trọng ông và khâm phục tinh thần dân tộc mạnh mẽ nơi ông.

 

Giai đoạn khó khăn

"Đâu đó có nhiều ý kiến cho rằng ông là một người độc tài. Nhưng nếu so sánh ông, chính phủ ông với những chế độ cầm quyền ở Đông Á, Đông Nam Á hay ở Miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn ấy, chưa chắc ông đã độc tài hơn những chế độ đó."

Ngoài ra, dù muốn hay không cũng phải thừa nhận rằng ông là một người có tầm nhìn, có tài. Nếu không ông chẳng bao giờ có thể trở thành Thủ tướng, Tổng thống và lập nên nền Đệ nhất Cộng hòa.

Nhưng trong thời năm nắm quyền của ông, miền Nam Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung, cũng như bất cứ quốc gia nào trong thời đầu hậu thuộc địa, phải đối diện nhiều khó khăn.

Những khó khăn đó một phần do tích cách, quan điểm hay chính con người ông tạo nên. Chẳng hạn Ross Marlay và Clark Neher nêu rằng ông ‘là người không thực cho một hoàn cảnh không thể’. Theo hai tác giả này là một người Công giáo nhiệt thành ông lại lãnh đạo một đất nước đa phần Phật giáo và những đức tính của ông lại trở thành những nhược điểm hủy hoại ông.

Cựu Đại tá Lý Trọng Song cũng cho rằng vì ông quá thánh thiện, nhân từ ông bị nhiều người khác lợi dụng, ám hại.

Rồi bối cảnh miền Nam Việt Nam, Việt Nam và thế giới nói chung lúc ấy cũng không dễ dàng gì để có thể xây dựng một thể chế vững mạnh, hiệu quả, một xã hội dân chủ, tự do và một đất nước hòa bình, phát triển trong một thời gian ngắn.

Nhưng chỉ trong một thời ngắn ít hay nhiều ông đã làm được một số việc quan trọng. Chẳng hạn, như Đại tá Lý Trọng Song nêu lên, ông đã giúp dẹp được các phe nhóm, đảng phái gây bất ổn cho Miền Nam lúc đó. Theo Seth Jacobs đây cũng là một thành công của ông được người Miền Nam ghi nhận.

Và trên hết, như Edward Miller nhận định, việc anh em ông bị lật đổ không thể chứng minh được rằng những ý tưởng, dự định của họ là luôn xấu, vô hiệu. Sau biến cố 1963, Miền Nam Việt Nam thay đổi tổng thống, chính phủ liên miên và mọi chuyện càng tệ hơn.

Đâu đó có nhiều ý kiến cho rằng ông là một người độc tài. Nhưng nếu so sánh ông, chính phủ ông với những chế độ cầm quyền ở Đông Á, Đông Nam Á hay ở Miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn ấy, chưa chắc ông đã độc tài hơn những chế độ đó.

Đặt ông trong bối cảnh như vậy, ít hay nhiều để thấy rằng cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm và Đệ nhất Cộng hòa ông thiết lập không tệ như mọi người nhận định, mô tả hay được nghe.

Đó cũng là một lý do đâu đó có nhiều người Việt hải ngoại tổ chức tưởng niệm, cầu nguyện và công nhận đóng góp của ông trong những ngày này.

Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả, một trí thức Công giáo hiện làm nghiên cứu tại Viện Global Policy, London./

 

Tiến sĩ Ronald Frankum
Viết riêng cho BBCVietnamese.com

BBC 28 Tháng 10 2008

 

Một cách hiểu về Ngô Đình Diệm

image025

Tổng thống Eisenhoweer và Ngoại trưởng John Foster Dulles đón tiếp ông Diệm tại phi trường Washington năm 1957

Tiếp tục loạt bài đánh giá về nhân vật Ngô Đình Diệm nhân 45 năm ngày xảy ra cuộc đảo chính tháng 11.1963, xin giới thiệu với quý vị bài viết của tiến sĩ Ronald Frankum, Phó Giáo sư Khoa Lịch sử, Đại học Millersville, bang Pennsylvania, Hoa Kỳ.

Năm 1954, Quốc trưởng Bảo Đại đề nghị Ngô Đình Diệm đứng ra thành lập chính phủ, tin rằng ông có thể kiểm soát được Diệm.

Bảo Đại đánh giá thấp Diệm, cũng giống như những người Mỹ chứng kiến ông, trong năm sau đó, vượt qua cơn hỗn tạp của công cuộc củng cố Việt Nam Cộng Hòa, cởi bỏ tàn tích của thực dân Pháp, chống trả ảnh hưởng của các tôn giáo và Việt Minh.

Đánh giá thấp

Các viên chức Mỹ không chỉ đánh giá thấp cơ hội sống sót của Ngô Đình Diệm mà cũng đánh giá thấp viễn kiến, khả năng lãnh đạo của ông ở một Việt Nam mà họ hy vọng sẽ là hình mẫu dân chủ.

Dù có một số thành công, một vài thất bại, Ngô Đình Diệm đã lãnh đạo đất nước theo cách tốt nhất có thể, trong hoàn cảnh chiến tranh và cách mạng ông phải đối đầu hàng ngày.

Diệm không trở thành vị lãnh đạo dân chủ chống Cộng sản mà người Mỹ dự đoán; ông ta cũng không thực thi những cải cách mà Mỹ trông chờ và trong nhiều phương diện, ông tách khỏi cung cách lãnh đạo mà những thành viên nội các Kennedy sau này đòi hỏi.

 

Dù có một số thành công, một vài thất bại, Ngô Đình Diệm đã lãnh đạo đất nước theo cách tốt nhất có thể

Nhưng Diệm có viễn kiến riêng về giải phóng Việt Nam khỏi ngoại bang, chống nhà nước cộng sản, dù rằng đây là hai mục tiêu mâu thuẫn vì để mục tiêu sau thành công thì phải có hỗ trợ của một ngoại cường, Mỹ.

Khi tạo ra Việt Nam Cộng Hòa từ tro tàn của gần 100 năm Pháp đô hộ, Diệm đối diện rất nhiều thử thách; chúng định hình chính sách và quyết định số phận của ông.

Diệm thừa hưởng một tình thế khó khăn; thực dân Pháp đẩy người Việt xuống hàng công dân hạng hai, không cho họ kiến thức và kinh nghiệm trị nước.

Trải nghiệm thực dân và thời gian chiếm đóng tàn nhẫn của Nhật thời Thế chiến Hai khiến đất nước chia rẽ về ý thức hệ, tôn giáo, văn hóa, xã hội. Ban bệ của Diệm lại không có mấy người có kinh nghiệm quản trị, nhiều người thì nuôi dưỡng sự nghi ngờ chính quyền Sài Gòn.

Rốt cuộc, việc Diệm không thể củng cố sự ủng hộ của dân chúng, không cải cách theo ý người Mỹ, đã dẫn tới việc ông bị ám sát tháng 11.1963.

Bước ngoặt trong quan hệ

Người ta đã biết nhiều về thời kỳ đấu tranh ban đầu khi Diệm làm tổng thống và sự sụp đổ năm 1963.

Nhưng cái thường bị bỏ qua là những sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ Mỹ - Diệm. Khi mà người Mỹ, từ chỗ xem Diệm là hy vọng duy nhất cho tương lai Việt Nam, nay xem ông là một trong những lãnh đạo bị thù ghét nhất mà chính quyền Kennedy phải giao thiệp.

Thời cai trị của Ngô Đình Diệm trùng hợp với sự can dự gia tăng của Mỹ trong khu vực, khi Tổng thống Dwight D. Eisenhower và sau đó, John F. Kennedy, tìm cách kiềm chế ảnh hưởng cộng sản tại châu Á, và xây dựng một hình mẫu cho các nước khác noi theo.

 

image028

Bộ trưởng Quốc phòng McNamara và Tướng Maxwell Taylor gặp Tổng thống Kennedy ngày 24.9.1963 trước khi tới Sài Gòn

Nhưng khác với niềm tin của nhiều người, thực ra điểm bước ngoặt trong thay đổi quan hệ Mỹ - Diệm không phải bắt đầu trong thời Kennedy.

Quan hệ đặc biệt bị phá vỡ do các đại diện của Mỹ cuối thập niên 1950, Đại sứ Elbridge Durbrow, Joseph A. Mendenhall, và Francis Cunningham.

Họ đã không thể hiểu đầy đủ sự phức tạp của chính trị, nhân vật miền Nam. Họ dính líu vào những mưu đồ chính trị Sài Gòn, tin (mà thường không kiểm chứng) những nhà đối lập với Diệm, những người tiếp tục phá chính quyền vào giai đoạn quan yếu của Việt Nam Cộng Hòa.

Các báo cáo mà Durbrow gửi về Washington thường xuyên lên án sự cứng đầu của Diệm. Kết quả là Durbrow từ chối ủng hộ Diệm trong cuộc đảo chính bất thành tháng 11.1960. Mấy tháng sau đó, ông ta cũng ngầm gợi ý rằng đã đến lúc thay Diệm.

Vị đại sứ cũng không tin Diệm có thể thắng cuộc bầu cử tháng Tư 1961 không phải nhờ gian lận mà nhờ uy tín, thành tích hoặc sự yếu kém của các ứng viên khác.

Quan hệ bị đầu độc

Hành động của viên đại sứ đặt ra tiền lệ, khiến Diệm giảm lòng tin vào đồng minh Mỹ.

Khi Durbrow ra đi tháng Tư 1961, quan hệ đặc biệt giữa Diệm và Hoa Kỳ đã bị đầu độc; nó đặt ra những khác biệt mà không người Mỹ nào, dù là Kennedy hay Johnson, có thể hàn gắn.

Những người ở lại tòa đại sứ, cùng những người chia sẻ sự căm ghét Diệm như Mendenhall, không làm gì để thay đổi không khí ở Washington, bất chấp cố gắng của những người hiểu Việt Nam hơn như Thiếu tướng Edward Lansdale và Giám đốc CIA tại Sài Gòn, William Colby.

Đến khi Kennedy đã có chỗ ngồi vững chãi tại Tòa Bạch Ốc, thí nghiệm Ngô Đình Diệm có vẻ chỉ tạo ra kết quả giảm sút. Sáu năm xây dựng quốc gia đã không đem lại một nhà nước mẫu mực mà Mỹ hy vọng có để chứng tỏ về một lựa chọn thay thế cộng sản ở châu Á.

Các quan chức phụ trách đối ngoại của Kennedy đụng độ với Diệm vì họ không bao giờ cố gắng tìm hiểu bản chất của sự trị quốc tại Việt Nam

Ngô Đình Diệm cũng ngày càng chống đối lời khuyên của Mỹ, trong khi những người “giỏi nhất, thông minh nhất” của Kennedy vẫn đề ra giải pháp cho một vấn đề mà họ không mấy hiểu biết.

Theo nhiều cách, các quan chức phụ trách đối ngoại của Kennedy đụng độ với Diệm vì họ không bao giờ cố gắng tìm hiểu bản chất của sự trị quốc tại Việt Nam, hay những phức tạp của sự lãnh đạo.

Diệm coi sự ngu dốt, hay cuồng ngạo này, của Mỹ là một trong những trở ngại chính cho việc tiếp tục quan hệ với Mỹ.

Mặc dù theo cách của riêng mình, Diệm cũng cố dạy bảo các viên chức Mỹ đến thị sát Việt Nam, nhưng người của Kennedy không chịu để Diệm dạy dỗ.

Và họ bắt đầu nhìn thấy sự có ích của ông ta chỉ có giới hạn. Thường thì họ diễn giải những cuộc độc thoại của Diệm về lịch sử, về tính chất đe dọa cho nước ông, chỉ là cách lẩn tránh lời khuyên của Mỹ.

Thái độ này dẫn tới vụ ám sát Diệm tháng 11.1963, đem lại thêm 12 năm chiến tranh, khổ đau cho những người Việt tiếp tục chống cộng sản, để lại một Việt Nam Cộng Hòa bị tàn phá, dù sau đó là thống nhất, sau cuộc đấu tranh trường kỳ và gian khổ.

Về tác giả:Ronald B. Frankum lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Syracuse và hiện dạy ở Khoa Lịch sử, Đại học Millersville. Ông là tác giả sách “Silent Partners: The United States and Australia in Vietnam, 1954-1968” (2001), đồng tác giả của “The Vietnam War for Dummies”(2002), và “Like Rolling Thunder: The Air War in Vietnam, 1964-1975” (2005). Cuốn sách mới nhất của ông, Operation Passage to Freedom: The United States Navy in Vietnam , 1954-1955, viết về chiến dịch của Hải quân Mỹ đưa gần 300.000 người Việt từ Bắc vào Nam năm 1954-55.


Kind Citizen

Mỹ đưa Diệm về nước chấp chánh theo đề nghị của Quốc Trưởng Bảo Đại. Vậy mà Diệm đã nhẫn tâm "hạ bệ" luôn QT Bảo Đại bằng một chiến dịch "bôi nhọ".

"Bài phong, đả thực, dẹp loạn" là những chiến dịch khá thành công tiếp theo của Diệm để ổn định xã hội miền Nam. Năm 1954 cũng là năm di cư của mấy triệu người CG miền Bắc ồ ạt chạy vào Nam-đó là một lực lượng "hết sức trung thành", một "con bài chủ chốt" trong công cuộc chống CS của Diệm và Mỹ, hình thành nên guồng máy cai trị của chính quyền Diệm ở miền Nam.

Chiến lược tách rời dân khỏi CS bằng việc xây dựng "ấp chiến lược" của Mỹ đã được Diệm "răm rắp" thực hiện thành công bước đầu, nhưng càng về sau càng đi đến "phá sản" vì thực ra chẳng người dân nào thích bị "nhốt trong nhà tù ở ngay nhà cửa ruộng vườn mình"!

Phong cách quan lại của nhà Ngô đã đưa đẩy Diệm từ một người "dễ chơi" thành người "khó bảo" trong việc thực thi các kế hoạch chống CS của Mỹ.


Một lựa chọn dân chủ trong quá khứ: Hoàng đế Bảo Đại - Thủ tướng Ngô Đình Diệm

Nguyễn Quang Duy

Kỳ 1

http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=14621&rb=0302

image029

Bảo Đại.
Nguồn:
www.wikimedia.org

Trong bài "Viễn kiến, quyền lực và tính chủ động: con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-1954", giáo sư Edward Miller trình bày những hoạt động của Ngô Đình Diệm trong vòng một thập kỷ trước khi ông trở thành Thủ tướng vào tháng 7 năm 1954. Dựa trên những hoạt động tích cực này, Edward Miller kết luận ông Diệm thành công chủ yếu nhờ nỗ lực của chính mình và của những đồng minh người Việt, cũng như ông đã chủ động tìm cách nắm lấy quyền lực đúng lúc. Trong kết luận thứ hai của bài viết, Edward Miller nhấn mạnh "... Không có bằng cớ nào chứng tỏ rằng Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm nhờ một chiến dịch gây áp lực (với Bảo Đại) do những quan chức Hoa Kỳ khởi xướng."

 

Bài tiểu luận này nghiên cứu những quan hệ giữa Hoàng đế Bảo Đại và Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Qua đây, độc giả nào quan tâm có thể thấy được nhiều điểm khác bài viết của Edward Miller về hai nhân vật lịch sử nói trên. Cũng như, vào năm 1954, việc Ngô Đình Diệm chấp chính là một chọn lựa dân chủ của Bảo Đại, với sự đồng thuận của tất cả các tôn giáo, các phong trào chính trị và đảng phái quốc gia tại Việt Nam. Và đến chết Bảo Đại vẫn tin rằng đây là một quyết định đúng lúc và đúng đắn, mặc dù sự chọn lựa này dẫn đến việc trưng cầu dân ý để "truất phế Bảo Đại, khai sinh Đệ nhất Cộng hoà".

 

Hoàn cảnh Việt Nam khi Bảo Đại cầm quyền

Câu chuyện về cụ Phan Bội Châu đối đáp với Hội đồng Đề hình nói được hoàn cảnh "An Nam" lúc Bảo Đại vừa lên ngôi.

Ngày 23-11-1925, Hội đồng Đề hình đã xử án cụ Phan Bội Châu, Quan toà hỏi:

"Ông phản đối chính trị của chính phủ bảo hộ, hay là chính trị của nước Nam?"

Cụ Phan trả lời:

"Tôi phản đối chính trị của chính phủ bảo hộ, chứ nước Nam có nước đâu và có chính trị đâu mà tôi phản đối?" [1]

 

Nước Nam ở đây chỉ gồm một phần của Trung kỳ. Theo hoà ước Giáp Tuất (1874), miền Nam đã trở thành đất Pháp. Theo Hoà ước Giáp Thân (1884), miền Bắc và miền Trung vẫn thuộc chủ quyền nhà Nguyễn và dưới sự bảo hộ của Pháp. Trên thực tế Pháp đặt ra Phủ Toàn quyền, lần hồi tước hết chủ quyền của vua. Năm 1893, Pháp đã buộc Triều đình Huế chấp thuận cho Pháp toàn quyền giữ gìn an ninh và cai trị vùng cao nguyên miền Trung. Người Kinh không được phép lên làm ăn buôn bán và sinh sống ở đây. Nhà vua cũng không còn được thu thuế ở vùng này nữa. Đến năm 1897, Pháp bãi bỏ chức Kinh lược sứ Bắc kỳ, giao quyền cho viên Thống sứ Pháp. Từ đó, ở Bắc kỳ, quan lại Việt Nam chỉ biết có Thống sứ chứ không còn biết đến triều đình nữa. Để dễ bề thống trị, Pháp đặt luật lệ riêng cho mỗi miền và cao nguyên.

 

Đó là thời gian khi Bảo Đại vừa chấp chính. Trong thời gian Bảo Đại đang theo học ở Pháp, đại thần nhiếp chính Tôn Thất Hân đã ký với Pháp một hiệp ước. Theo đó, khâm sứ Pháp được chủ toạ Hội đồng Nội các. Pháp đảm trách thu thuế và kiểm soát tài chính. Từ đó triều đình không còn ngân sách riêng. Mọi quyết định chi tiêu của nhà vua cũng phải lấy phê chuẩn từ các công chức Pháp... Đó là "thời" của vị vua xưa nay vẫn bị khép là "bù nhìn".

 

Hoàng đế Bảo Đại và vị Thượng thư Bộ Lại

Sau khi tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị Paris và về nước, khi nắm được tình hình Bảo Đại đã bắt tay ngay vào việc cải cách đất nước, mong từng bước khôi phục lại chủ quyền quốc gia. Ngày 10-12-1932, Bảo Đại cho công bố một đạo dụ theo đó nước ta theo chế độ quân chủ lập hiến. Bảo Đại sẽ trực tiếp điều khiển nội các, và cho cải cách hành chính, giaó dục, tư pháp, cũng như muốn người Pháp thực thi đúng đắn Hoà ước 1884, để cho Triều đình một ít quyền hành trong khuôn khổ nền bảo hộ Pháp. Theo đó một nội các mới đã được thành lập gồm những người trẻ như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Đệ...

 

Những dự định cải cách này đã được ông Phạm Quỳnh, nguyên chủ bút Nam Phong, đề nghị từ trước qua bốn bài xã luận đăng trên báo France-Indochine ở Hà Nội, mà bài thứ ba nhan đề là "Tiến tới một Hiến pháp". Vì đề nghị Phạm Quỳnh phù hợp với ước muốn cải cách, nhà vua đã chọn Phạm Quỳnh làm Thượng thư Nội các [2] mới thay thế Nguyễn Hữu Bài. Bảo Đại cho biết chính ông Charles [3] , có thể theo chỉ thị của chính phủ Pháp, đã đề nghị Phạm Quỳnh vào chức vụ này.

 

Còn về Ngô Đình Diệm, Bảo Đại chọn vì: "... lúc ấy [Ngô Đình Diệm] làm tuần vũ tỉnh Phan Thiết, để đảm trách Bộ Lại. Vốn dòng dõi quan lại, anh ruột ông ta làm Tổng đốc tỉnh Faifo. Diệm năm ấy mới 31 tuổi, nổi tiếng là thông minh, liêm khiết. Đây là một người quốc gia bảo thủ. Ngoài chức vụ Thượng thư Nội các, Ngô Đình Diệm lại còn là Tổng thư ký cho Hội đồng Hỗn hợp về Canh tân đã được ban bố năm trước bao gồm các thượng thư Việt Nam và hàng công chức cao cấp Pháp. Ngô Đình Diệm đã được Nguyễn Hữu Bài trước khi về hưu, tiến cử." [4]

 

Bảo Đại đặt hết niềm tin vào hai người Phạm Quỳnh và Ngô Đình Diệm. Phạm Quỳnh đầy viễn kiến lại được người Pháp hổ trợ. Còn Ngô Đình Diệm thì kinh nghiệm, uy tín và ước mong cải tổ xã hội Việt Nam. Những cải tổ kể trên bị các phần tử bảo thủ, lạc hậu, thực dân trong chính phủ Pháp kịch liệt chống đối nên nỗ lực của Bảo Đại và hai ông Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm bị tê liệt hoàn toàn.

 

Chỉ sau bốn tháng, Ngô Đình Diệm xin Bảo Đại được từ chức. Bảo Đại đã khuyên Ngô Đình Diệm như sau: "Quan Thượng, trẫm hiểu tinh thần trách nhiệm của quan Thượng. Sự liêm khiết ấy đã tôn vinh ông lên rất nhiều, nhưng cần phải chờ thời. Đất nước ta chưa sẵn sàng. Sau nữa, những năm sắp tới đây còn dành cho chúng ta nhiều biến chuyển. Trẫm biết ông và quan Thượng Nguyễn Hữu Bài vẫn có liên lạc chặt chẽ. Như thế, hẳn cụ Bài không quên nhắn nhủ ông những điều lo ngại của cụ. Chiến tranh khó có thể tránh được ở Âu châu, và như thế, sẽ có những hậu quả đối với Á châu mà Nhật Bản có thể là vai trò chủ chốt." [5] Cũng cần biết, năm 1907, vua Thành Thái bị Pháp bắt vì liên lạc với Kỳ Ngoại hầu Cường Để đang ở Nhật. Pháp buộc nhà vua thoái vị và đày sang đảo Reunion [6] . Ngô Đình Khả, thân phụ Ngô Đình Diệm, lại là Thượng thư Bộ Lễ và tận trung không chịu cùng với các đại thần trong triều đình theo lệnh Pháp ký tên vào tờ biểu yêu cầu vua Thành Thái thoái vị. Vì thế đã bị người Pháp giáng chức và bắt về hưu không cho lãnh tiền hưu liễm.

 

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại đích thân mời và Cường Để đã nhận lời hồi hương giúp nước. Ngày 30-7-1945, tại Tokyo, cơ quan thông tấn Domei loan tin Cường để đang trên đường về Việt Nam, do lời mời của Bảo Đại. Cường Để sẽ nắm chức Cơ mật Viện trưởng. [7] Báo Hưng Việt, ngày 3-8-1945, đã viết "... Theo Để, mục đích của ông là khôi phục lại độc lập cho Tổ Quốc, mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc chứ không vì ngôi đế vương." [8] Nguyễn Hữu Bài và Ngô Đình Diệm đều có liên lạc mật thiết với Cường Để. Cả hai vẫn tiếp tục được Bảo Đại tin dùng. Có phải Nguyễn Hữu Bài và Ngô Đình Diệm đã được Bảo Đại giao phó trọng trách (hay ngầm thu xếp) liên lạc với Kỳ Ngoại hầu Cường Để, nói riêng, và Nhật, nói chung?

 

Bảo Đại đã từng giao trách nhiệm liên lạc các đảng phái quốc gia và Việt Minh cho các ông Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Phan Kế Toại để kêu gọi cộng tác hay kết hợp. Kỳ Ngoại hầu Cường Để là chú của Bảo Đại. Cho nên không có gì là lạ nếu Nguyễn Hữu Bài và Ngô Đình Diệm đã được Bảo Đại giao phó trọng trách liên lạc với Kỳ Ngoại hầu.

 

Còn Nguyễn Đệ là bí thư của Bảo Đại. Một chuyên viên kinh tế, có thể đã được Từ Cung Thái hậu giới thiệu. Nguyễn Đệ cũng quen biết Nguyễn Hữu Bài và là bạn thân của Ngô Đình Diệm. Sau khi Ngô Đình Diệm từ chức, Nguyễn Đệ cũng xin từ chức. Sau này khi Bảo Đại làm Quốc trưởng ông lại tiếp tục làm bí thư của Bảo Đại và được Bảo Đại hết mực tin dùng. Mặc dù có lúc Bảo Đại đã lo ngại Nguyễn Đệ là người của Toà thánh Vatican vì ông đã được Toà thánh giới thiệu.

 

Trong hồi ký của mình, Bảo Đại cũng nhắc đến việc Bùi Bằng Đoàn được giao nắm Bộ Hình (tức Bộ Tư pháp). Ông này vốn là quan, có bằng luật khoa và đã 51 tuổi. [9]

 

Qua nội các đầu tiên, Bảo Đại đã cho thấy ông là người sẵn sàng tham khảo ý kiến và dung hoà những quan điểm hoặc khuynh hướng khác nhau nhằm xây dựng nền tảng dân chủ, trong một thể chế quân chủ lập hiến.

Nhật đảo chính Pháp

Năm 1940, Nhật đánh Lạng Sơn, Pháp thua phải ký hiệp ước cho quân Nhật sang đóng trên lãnh thổ Việt Nam. Năm 1945, phe Đức - Nhật yếu thế, khối Đồng minh nắm chắc phần thắng. Quân Pháp ở Việt Nam bắt liên lạc với quân Đồng minh. Nhật biết được, đêm 9-3-1945, Nhật cho nổ súng tấn công quân Pháp. Chỉ trong vòng một đêm, cơ đồ thực dân Pháp xây dựng trong vòng trăm năm đã hoàn toàn sụp đổ.

 

Ngày 11-3-1945, Đại sứ Nhật Marc Masayuki Yokoyama yết kiến Bảo Đại tường trình việc Nhật chấm dứt chủ quyền của Pháp ở Việt Nam và nhiệm vụ của ông là trao lại nền độc lập của Việt Nam. Bảo Đại rất ngạc nhiên đặt thẳng vấn đề Nhật công khai bảo trợ Hoàng thân Cường Để rồi kết luận: "... Còn tôi, tôi quan tâm đến dân tộc tôi hơn là quan tâm đến ngai vàng..." [10] Việc Bảo Đại tự ý thoái vị (25--8--1945), và chấp nhận bị truất phế (23--10--1955) đã chứng minh Bảo Đại là lãnh tụ "thờ ơ" quyền lực.

 

Ngay chiều hôm đó, Bảo Đại cho triệu tập Hội đồng Cơ mật để thông báo, phân tích và thảo luận về tình hình mới. Bảo Đại yêu cầu tất cả các thượng thư đồng ký bản Tuyên ngôn Độc lập, do Phạm Quỳnh soạn từ gợi ý của Yokoyama, trong đó xác định "... kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia..." [11] Ngày 19-3-1945, vua Bảo Đại báo cho thượng thư Phạm Quỳnh biết là từ nay, nhà vua tự tay đảm trách quyền lãnh đạo quốc gia. Phạm Quỳnh ý thức được tình thế mới, đã cùng toàn thể thượng thư lục bộ xin từ chức.

 

Bảo Đại cho lập nội các mới. Như đã nói ở trên có thể Ngô Đình Diệm đã được Bảo Đaị giao phó trọng trách liên lạc với Kỳ Ngoại hầu Cường Để và Nhật. Do đó Bảo Đại đã coi Ngô Đình Diệm là ứng cử viên số một để lãnh đạo chính phủ Việt Nam mới, và vì vậy Bảo Đại đã hai lần đích thân nhờ Đại sứ Nhật Yokoyama triệu hồi Ngô Đình Diệm từ Sài Gòn về Huế thành lập chính phủ.

 

Edward Miller, dựa vào Shiraishi, cho rằng Ngô Đình Diệm đã nhận được bức điện thứ hai trong hai bức điện mà Bảo Đại gửi đi ngay, và đã tự ý từ chối lời đề nghị của Bảo Đại. Ông đã thắc mắc không biết vì lý do gì ông Diệm quyết định như vậy. Nhưng lại cho biết ông Diệm đã hối hận về quyết định này và cố gắng đảo ngược tình thế, nhưng quá muộn: Bảo Đại đã mời học giả và nhà phê bình văn hoá Trần Trọng Kim lên làm thủ tướng.

 

Vũ Ngự Chiêu, lại dựa vào Marakami, cho rằng tướng Nhật Tsuchihashi Yuitsui, Toàn Quyền Nhật tại Đông Dương, đã không muốn đưa Cường Để lên ngôi, với hy vọng sẽ lợi dụng tối đa hệ thống hành chính thuộc địa của Pháp. [12] Báo Thông tin, Hà Nội ngày 10-6-1945, đưa tin: "DIỆM, từ năm 1944, đã được coi như ứng viên chức thủ tướng trong một chính phủ do Nhật bảo trợ. Tuy nhiên, từ sau ngày Tsuchihashi được giao trách nhiệm cai quản Đông Dương, phe Cường Để bị loại. Bị Tokyo áp lực đưa Cường Để hồi hương, Tsuchihashi đã có lần tuyên bố: Cứ đưa hắn về đây. Ta sẽ lập tức tống cổ hắn vào Côn Lôn." [13]

 

Theo bản phúc trình cho nhà cầm quyền Pháp dưới dạng hồi ký không được công bố của Đại sứ Nhật Yokoyama, Ngô Đình Diệm đã từ chối vì lý do sức khoẻ. Nhưng ít lâu sau thì ông được biết ông Diệm đã từ chối vì hai lý do: thứ nhất ông đã thề trung thành với Kỳ Ngoại hầu Cường Để và không muốn phục vụ Bảo Đại mà ông cho là thân Pháp; thứ hai là ông muốn lấy lại Nam Bộ và ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng mà lúc này Nhật chưa trả lại cho Việt Nam. [14]

 

Trong khi đó, hồi ký Bảo Đại viết rất rõ: "...Trong óc tôi, người tiêu biểu nhất trong số này là Ngô Đình Diệm... Ba tuần lễ trôi qua, mà chẳng thấy tăm hơi Ngô Đình Diệm ở đâu. Trước thúc dục ngày càng khẩn thiết của tôi, Đại sứ Yokoyama trả lời là chưa tìm thấy vị Thủ tướng dự trù này. Sự chậm trễ ấy làm tôi suy nghĩ. Người Nhật rất thành thạo trong sự kiện xảy ra ở Việt Nam. Cơ quan tình báo của họ rất đắc lực, và họ biết chỗ và biết cách để tìm thấy nhân vật này. Về sau tôi biết được qua lời nói của Đại sứ Yokoyama là Ngô Đình Diệm không được cảm tình của của chính phủ Nhật." [15]

 

Trong Hồi Ký Trần Trọng Kim có hai lần nhắc đến việc này. Lần đầu ở Chương 3 khi vừa từ Thái Lan về lại Việt Nam, khi ông vừa nhận được thơ mời của Bảo Đại, ông gặp ông Diệm thì được ông Diệm cho biết đã không nhận được thơ mời. [16] Lần thứ hai Trần Trọng Kim nhắc đến việc này là ở Chương 4 khi ông vào gặp Bảo Đại. Trần Trọng Kim nói rõ ông có "hỏi ông Tối cao Cố vấn Nhật xem có tin gì về ông Diệm chưa. Trước thì cố vấn Nhật nói chưa biết ông Diệm ở đâu, sau nói ông Diệm đau chưa về được. Đó là lời Tối cao Cố vấn, chứ tự ông Diệm không có điện riêng xác định lại." [17] Hồi ký của Trần Trọng Kim được xuất bản tại Sài Gòn năm 1969, có thể là hồi ký được nhiều người Việt đọc nhất. Khi hồi ký này được phổ biến các nhân vật lịch sử như Bảo Đại, Hoàng Xuân Hãn, Tùng Hạ, Phan Anh... đều còn sống và không có người nào đính chính. Đối chiếu hồi ký của Bảo Đại và Trần Trọng Kim có thể nói rằng Yokoyama đã thiếu thành thật khi báo cáo với người Pháp.

 

Sau khi chính phủ Trần Trọng Kim đã được thành lập, Đỗ Mậu và Nguyễn Tấn Quê, hai cán bộ cùng tổ chức Đại Việt Phục hưng của ông Diệm, đã được ông Ngô Đình Khôi cử vào Sài Gòn để gặp ông Diệm và để tổ chức cuộc đón tiếp Kỳ Ngoại hầu mà ông Khôi tưởng sẽ trở về Việt nam. Nhờ đó Đỗ Mậu mới biết để ghi rõ trong hồi ký của ông như sau: "Ông Diệm mới trình bày việc người Nhật đã phản bội, không cho Kỳ Ngoại hầu Cường Để về nước và cắt đứt mọi liên lạc chính trị với chính ông... Lúc bấy giờ ông Quê và tôi mới thực sự hiểu rõ tình hình và trạng huống bi đát cua ông Diệm và của tổ chức chúng tôi. Sách lược nắm chính quyền bằng con đường thân Nhật của ông Diệm đã đi vào bế tắc và hoàn toàn thất bại, hệ quả chính trị của nó không những là mất đi những ưu thế phát triển mà quan trọng hơn cả, còn là sự tê liệt của tổ chức." [18] Trong hồi ký Nguyễn Xuân Chữ, một thành viên trong Uỷ ban Kiến quốc, có hình thức của một chính phủ lâm thời thân Nhật, cho biết ông cũng đã bị lãnh sự Nhật hăm doạ: "...Nhưng nếu ông tiếp tục hoạt động, chúng tôi sẽ bắt buộc phải nghiêm trị phong trào của ông..." [19] Đối chiếu các hồi ký kể trên có thể kết luận người Nhật đã không đồng ý với Bảo Đại để Ngô Đình Diệm đứng ra thành lập chính phủ. Thậm chí người Nhật còn tìm cách ngăn cấm mọi sinh hoạt chính trị của ông Diệm.

 

Trong hồi ký, Đỗ Mậu cũng cho biết: "Công tác của tôi được ông Diệm giao phó là tổ chức một lực lượng quân nhân khố xanh trong khắp cơ binh thuộc xứ Trung kỳ, bao gồm từ Thanh Hoá vào đến Phan Thiết và các tỉnh cao nguyên. Về quân nhân khố đỏ thì do Thiếu uý Phan Tử Lăng đang phục vụ trong Mang Cá ở Huế phối hợp với ông đội khố đỏ Nguyễn Vinh phụ trách việc liên lạc và thông tin các cơ sở quân sự đóng tại Huế và Phú Bài." Như vậy, nếu ông Diệm nắm quyền, lực lượng này sẽ là nồng cốt cho việc thành lập một lực lượng quân sự hay Quân đội Quốc gia. Điều này có lẽ người Nhật đã biết được.

 

Sau khi Nhật đảo chính, đa số người Pháp ở Đông Dương vẫn được tự do và tiếp tục đảm trách những công việc hành chính trước đây. Người Nhật chỉ bắt một số ít các giới chức cao cấp người Pháp có liên hệ với phe De Gaulle và thành phần chống đối. Mục đích chính của cuộc đảo chính là tránh việc lực lượng Đồng minh đổ bộ, quân Pháp nội ứng sẽ nổi dậy. Trong đánh ra, ngoài đánh vào, sẽ gây thiệt hại khó lường cho quân đội Nhật. Lúc này Thế chiến Thứ hai cũng đã đến hồi kết thúc. Người Nhật biết rõ ván cờ khó có thể đổi chiều. Đảo chính là việc không thể tránh. Nhưng người Nhật muốn tránh mọi việc gây thêm ác cảm với người Pháp. (Thêm vào đó, cá nhân Đại sứ Yokohama lại có vợ là người Pháp.) Người Nhật cũng muốn tiếp tục lợi dụng hệ thống hành chính thuộc địa của Pháp. Do đó việc xử dụng những lực lượng Quốc gia chống Pháp, với chủ trương quá khích hay vũ trang, không còn được hổ trợ hay nằm trong chiến lược của Nhật tại Đông Dương. Đây có thể là lý do chính người Nhật đã không đồng ý với Bảo Đại để Ngô Đình Diệm đứng ra thành lập chính phủ. Và nội các Trần Trọng Kim là nội các của giới khoa bảng.

 

Cũng vì lý do này, người Nhật chỉ trao trả lực lượng Bảo an cho chính phủ Trần Trọng Kim hai tuần lễ trước ngày Việt Minh cướp chính quyền. Thiếu một lực lượng quân sự để bảo vệ an ninh cho dân chúng và bảo vệ chính quyền là lý do chính khiến chính phủ Trần Trọng Kim đã tự giải thể ngay khi Nhật đầu hàng.

 

Ngô Đình Diệm từ chối lời mời

image031

- Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ cầm quyền không quá 4 tháng (17-4 tới 5-8-1945).

- Sau đó nhiều diễn biến dồn dập xảy tới, mà hậu quả đến nay vẫn chưa giải quyết được.

- Hai trái bom nguyên tử được thả xuống Hiroshima (ngày 6-8-1945) và Nagasaki (ngày 9-8-1945).

- Liên Sô tuyên chiến với Nhật (ngày 11-8-1945). Ngày 15-8-1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh.

- Ngày 17-8-1945, tại Nhà hát lớn Hà Nội Việt Minh cướp diễn đàn của Tổng hội công chức.

- Ngày 19-8-1945, Việt Minh cướp chính quyền Hà Nội. Ngày 25-8-1945, Bảo Đại thoái vị.

- Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh tuyên bố cầm quyền. Quân Pháp quay lại Việt Nam.

- Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ Bộ chấp nhận quân Pháp trở lại Việt Nam. Thương thuyết giữa Pháp và Việt Minh bế tắc.

- Ngày 19-12-1946, Hồ Chí Minh tuyên chiến với Pháp.

 

Sau khi thoái vị, Bảo Đại đã nhận lời mời của Hồ Chí Minh ra Hà Nội làm "Cố vấn Tối cao" cho Chính phủ của họ Hồ. Nhờ đó Bảo Đại biết được Hồ Chí Minh chỉ lấy mình làm bức bình phong, để được quốc dân và Đồng minh công nhận sự "chính danh" của cái chính phủ tự phong này. Khi Hồ nhận ra việc Bảo Đại vẫn được quốc dân, các đảng phái quốc gia và Đồng minh tin tưởng mời ra chấp chính, Hồ đã yêu cầu nhà vua theo phái đoàn sang gặp thống chế Tưởng Giới Thạch. Rồi tìm cách bỏ Bảo Đại lại đây: một hình thức cho lưu đày viễn xứ. [20] Cũng nhờ thời gian làm "Cố vấn" cho Hồ Chí Minh, Bảo Đại mới thấu hiểu bề sâu của cung đình "cách mạng vô sản". [21] Hồi ký Trần Trọng Kim cho biết khi ông gặp Bảo Đại ở Hồng Kông lời đầu tiên nhà vua đã nói với ông là: "Chúng mình già trẻ lớn bé mắc lừa bọn du côn." [22]

 

Sau ngày Việt Minh cướp chính quyền, Ngô Đình Diệm cũng bị bắt giữ một thời gian tại miền Trung, sau đó ông được đưa ra Hà Nội vào khoảng tháng 2 năm 1946 để gặp Hồ Chí Minh. Hồ đề nghị Ngô Đình Diệm giữ một chức vụ trong chính phủ đoàn kết Việt Minh nhưng Ngô đã không nhận. Trong thời gian này, Bảo Đại và Ngô Đình Diệm không được gặp nhau nhưng có thể đã được Hồ thu xếp giao cho một công việc mà cả hai đều đã không nhận. Điều này sẽ được đề cập trong một dịp khác.

 

Một mặt, vì không thể thương lượng hay thoả hiệp với Việt Minh, một tổ chức cộng sản; mặt khác, vì cần sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để có phương tiện tài chính đối phó với Cộng sản, Pháp đã phải chấp nhận điều kiện của Hoa Kỳ là từng bước nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam. [23] Ngày 20-3-1947 Hội đồng Chính phủ Ramadier cùng Hội đồng Các chính đảng Pháp công bố Quyết nghị về chính sách mới của Pháp tại Việt Nam. Theo đó, chính phủ Pháp hướng về Bảo Đại như một giải pháp nhằm chấm dứt chiến tranh và từng bước trao trả độc lập thống nhất cho Việt Nam. [24]

 

Người Việt quốc gia sau một thời gian ngắn tiếp xúc với Việt Minh, cũng nhìn ra cốt lõi và bản chất cộng sản của tổ chức này. Bắt tay với Việt Minh hay với Pháp đều đi ngược lý tưởng quốc gia mà họ hằng theo đuổi. Nhân sỹ và lãnh đạo các tổ chức Quốc gia đã nhanh chóng hướng đến Bảo Đại như tâm điểm, vừa chống Pháp, vừa chống Cộng sản, từng bước giành lại độc lập thống nhất cho Việt Nam. Hồng Kông trở thành một tụ điểm cho người Việt quốc gia. Bảo Đại lắng nghe từng cá nhân, từng tổ chức, tự nhận lãnh vai trò trọng tài, đứng trên các đoàn thể chính trị trong nước để dung hoà những quan điểm hoặc khuynh hướng khác nhau và tạo thế đoàn kết cho những người Việt quốc gia. Chung quanh Bảo Đại, nhân sỹ và lãnh đạo các tổ chức sinh hoạt như một quốc hội nhỏ. Họ đề đạt, họ chọn lựa những người đại diện và quyết định chiến thuật cho từng giai đoạn.

 

Ngày 5-7-1947, Bảo Đại lên tiếng sẵn sàng chấp nhận vai trò nếu được dân chúng Việt Nam đặt tín nhiệm. Ngày 18-9-1947, nhà vua gởi lời kêu gọi dân chúng với mong muốn:"... đạt được độc lập và thống nhất, đúng như nguyện vọng của đồng bào, đạt tới những thoả hiệp do sự bảo đảm hổ tương, và có thể xác định với đồng bào là lý tưởng mà chúng ta từng dũng cảm chiến đấu trong cuộc kháng chiến gian lao, sẽ đạt được toàn diện..." [25] Ngày 7-12-1947 Cao uỷ Bollaert ký Tuyên Ngôn Chung trên Vịnh Hạ Long với "cá nhân" Quốc Trưởng Bảo Đại, để thừa nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam. Sau đó Bảo Đại sang Pháp xem xét tình hình rồi quay về Hồng Kông để tham khảo ý kiến của Ngô Đình Diệm, Trần văn Lý, Nguyễn văn Xuân, Phan văn Giáo... rồi cân nhắc nước cờ tới, từng bước đấu trí với người Pháp.

 

Ngô Đình Diệm là một trong những người đã luôn sát cánh bên Bảo Đại trong thời gian nay. Edward Miller đã viết "... Điều quan trọng là kế hoạch Ngô Đình Diệm cổ vũ trong những cuộc gặp gỡ này phản ánh nhận thức về nền cộng hoà trong ông: kế hoạch nhằm xây dựng một hội đồng Việt Nam mới, trong đó uỷ nhiệm Bảo Đại làm đại diện trong các cuộc thương lượng với Pháp, và kế hoạch cũng quy định là cựu hoàng có nghĩa vụ phải hội ý với hội đồng trước khi thực hiện bất cứ thoả thuận nào về vấn đề độc lập". Edward Miller đã tham khảo hồi ký của Bảo Đại nhưng lại thiếu khách quan và công bằng khi viết như trên.

 

Trong hồi ký, Bảo Đại đã thuật lại vắn tắt như sau "... Thierry D'Argenlieu đã nói là giải pháp Hồ Chí Minh đã thất bại. Nay gió đã đổi chiều. Trong số khách thăm viếng này, người thì đến để theo phò, người thì đến để thăm dò đường lối cho Pháp hay cho các nước khác. Bác sỹ Phan Huy Đán, Luật sư Đinh Xuân Quảng, cả hai đều thuộc phe xã hội, thêm đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng Trần văn Tuyên, đều từ Quảng Châu sang. Người em họ trung thành với tôi, Vĩnh Cẩn cùng người em khác trẻ hơn, là tay đá banh nổi tiếng Vĩnh Tường, và Phan Văn Giáo tạo thành cái nhân vĩnh viễn thân cận. Rồi đến quý vị khác khá danh tiếng như Bác sỹ Lê Văn Hoạch, thuộc nhóm Cao Đài, cựu phó thủ tướng Nam Bộ, Phạm Văn Bích, Ngô Đình Diệm trước tôi tưởng là tai mắt của Mỹ, Phạm Công Tắc, giáo chủ Tây Ninh, Lê Văn Soái, tướng Hoà Hảo, v.v... Tất cả các nhân vật đó đều đưa ra ý kiến và đồng nhất về chính trị, nhấn mạnh là tôi phải trở về, để đem lại hoà bình cho đất nước." [26]

Bảo Đại không cho biết lý do tại sao đã tưởng Ngô Đình Diệm là tai mắt của Mỹ. So với các nhân vật khác Bảo Đại chỉ coi Ngô Đình Diệm như một nhân sỹ hơn là một lãnh đạo tổ chức. Cũng cần biết lúc này tổ chức Đại Việt Phục Hưng của Ngô Đình Diệm đã bị Việt Minh khủng bố và chưa tổ chức lại được, nếu không nói là đã tan rã.

 

Sự thành hình của chính phủ Ramadier ngày 21-1-1947, và quyết định thay d'Argenlieu bằng Dân biểu Emile Bollaert ngày 5-3-1947 mang lại một không khí mới. Bollaert chấp nhận một chính phủ Liên bang Việt Nam, với ba chính phủ địa phương tại ba kỳ, và một chính phủ trung ương tượng trưng sự thống nhất lãnh thổ. Vấn đề đặt ra là ai sẽ cầm đầu chính phủ trung ương đó. Bảo Đại là người duy nhất Bollaert muốn giao cho nắm giữ chính phủ Trung ương này.

 

Ngày 22-3-1948, Bảo Đại đã cử Ngô Đình Diệm về Sài Gòn gặp Cao uỷ Bollaert để tìm hiểu thái độ Pháp về việc thành lập một chính phủ trung ương lâm thời. Chuyến đi không mấy kết quả, ông Diệm rất thất vọng khi trở lại Hồng Kông. Bảo Đại đã kể lại như sau: "Theo Diệm, chúng tôi chỉ còn một cách: Đợi chờ, và để khẳng định thái độ cương quyết của mình, ông ta đề nghị lập một uỷ ban nghiên cứu, mà người ta đoán được dễ dàng là chẳng đi đến đâu. Đa số các nhà ái quốc ở Hồng Kông lại không đồng quan điểm với Diệm." [27] Bảo Đại viết tiếp "Để cắt ngắn những lập trường mâu thuẫn ấy, tôi đề nghị tập hợp một Hội nghị vào ngày 26 tháng 3 ở Hồng Kông khách sạn, để ra một thông báo, thành lập một chính phủ trung ương lâm thời, không phải để điều đình mà để dùng làm "Tạm ước sống còn" với nước Pháp, có tầm trách nhiệm hạn chế, nhưng thực hiện được tức khắc, hầu giúp cho hai bên cơ hội hiểu biết nhau và thoả hiệp bằng những sự việc cụ thể... Lập một chính phủ trung ương lâm thời, phù hợp với hoàn cảnh quốc tế là một điều vừa hữu lý, vừa cần thiết." [28] và "..., tôi cho Trần văn Tuyên giải thích rõ ràng hơn, với các đại diện chính trị và tôn giáo là nếu chính phủ trung ương lâm thời được uỷ nhiệm đàm phán về bản thông báo, về thể chế thực hiện, thì tôi chịu trách nhiệm đàm phán về thoả ước nhất định, nhưng nhiệm vụ của tôi chỉ đóng vai trò trung gian, hay điều giải viên hạn chế có vậy mà thôi, chỉ có nhân dân mới có quyền quyết định tự do với đầy đủ ý thức để thiết lập thể chế mà họ bằng lòng chấp nhận, sau khi trật tự và hoà bình được vãn hồi." [29] Đa số đồng ý để Bảo Đại vận động thành lập Chính Phủ Quốc Gia Lâm Thời đứng ra thoả hiệp với Pháp.

 

Trong hồi ký Bảo Đại cho biết một cách rõ ràng, Ngô Đình Diệm vẫn chính là nhân vật đầu tiên mà ông nghĩ tới: "Nay chỉ còn đi đến việc thực hiện. Nhưng ai sẽ là thủ tướng chính phủ trung ương đây? Diệm được mời, nhưng lại từ chối không chịu ký vào bản thể chế, nên không nhận..." [30] Cuối cùng Tướng Nguyễn Văn Xuân đã được chọn.

 

Ông Nguyễn Văn Xuân là một người miền Nam, một công dân Pháp và đương kim Thủ tướng Nam Kỳ Cộng hoà quốc. Mục đích chính Bảo Đại chọn Nguyễn Văn Xuân chỉ để người Pháp chấp nhận hai từ độc lập, thống nhất trong các văn kiện sẽ ký sau này với Pháp.

 

Dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ (Việt Nam) và cờ tam tài (Pháp), với sự chứng kiến của Quốc trưởng Bảo Đại, ngày 5 tháng 6 năm 1948 tại vịnh Hạ Long, ông Emile Bollaert, Cao uỷ Pháp ở Đông Dương, và ông Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, đồng công bố bản Tuyên bố chung: "Nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam; Việt Nam được tự do thực hiện nền thống nhất của mình." [31] Đây là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng, lần đầu tiên Pháp chính thức công nhận Chính phủ Quốc gia Việt Nam (thống nhất ba miền Việt Nam) và cũng là lần đầu tiên lá Quốc kỳ vàng ba sọc đỏ được chính thức công nhận. [32] Trước đó, ngày 7-12-1947 Cao uỷ Bollaert đã ký Tuyên ngôn chung trên vịnh Hạ Long với "cá nhân" Quốc trưởng Bảo Đại, để thừa nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam. Sau đó Bảo Đại đi Pháp còn Ngô Đình Diệm trở về Việt Nam.

 

Ngày 28-4-1949, Bảo Đại về nước lại có ý định mời Ngô Đình Diệm ra lập chính phủ. Trong hồi ký Bảo Đại đã không nhắc đến ý định này. Theo hồi ký Linh mục Cao văn Luận khi ông vào Huế: "Bửu Lộc đánh điện mời tôi lên gặp hoàng đế Bảo Đại, và ý chừng muốn nhờ tôi thuyết phục ông Ngô Đình Diệm ra thành lập một chính phủ qui tụ được những người quốc gia chân chính, có uy tín, có tài năng."

 

Trước khi gặp Bảo Đại Linh mục Luận có gặp Ngô Đình Diệm và được ông Diệm cho biết chưa phải lúc để ông tham chính: "Bên Tàu đằng nào thì Mao Trạch Đông cũng thắng Tưởng Giới Thạch. Mỹ muốn cho họ Tưởng thoả hiệp chia đất hay chia quyền với Mao cho yên chuyện Trung Hoa lục địa. Quân cộng sản Tàu thẳng tiến đến biên giới Bắc Việt Nam, quân Việt Minh được sự giúp đỡ trực tiếp của quân cộng sản Tàu, sẽ mạnh lên, quân Pháp sẽ gặp khó khăn, lúc đó thì cả Pháp và Bảo Đại sẽ lạy lục người nào đưa ra được một giải pháp quốc gia chân chính. Lúc đó ra cũng chưa muộn." Khi Linh mục Luận yết kiến Bảo Đại chỉ nghe Bảo Đại than:" Lúc mới về nước tôi đặt nhiều hy vọng vào sự hợp tác của các nhân vật quốc gia chân chính. Tôi có ngỏ ý mời họ nhưng phần đông đều từ chối hoặc đòi hỏi những điều kiện quá lý tưởng không thể nào tạo ra được trong hoàn cảnh này." Linh mục Luận không nghe Bảo Đại nhắc gì đến Ngô Đình Diệm. Vào ngày 16 tháng 6 năm 1949, Ngô Đình Diệm cho đăng một tuyên bố trong đó ông hoàn toàn phủ nhận Hiệp ước Elysée, là bản hiệp ước mà Bảo Đại đã ký với Tổng thống Pháp Vincent Auriol, trước khi Bảo Đại về nước.

 

Linh mục Cao văn Luận cũng cho biết một lý do khác mà Ngô Đình Diệm mặc dù chấp nhận giải pháp từng bước giành độc lập mà Bảo Đại đang đeo đuổi nhưng đã từ chối cộng tác với Bảo Đại: "... thì chúng ta có thể dùng thoả hiệp vịnh Hạ Long làm bàn đạp để tranh đấu một cách ôn hoà, đòi hỏi thêm những chủ quyền khác mà người Pháp chưa chịu trao trả. Với ai thì được, nhưng với Bảo Đại thì không thể được. Dù có thiện chí đến mấy cũng vô ích thôi. Bảo Đại chỉ thích nghi lễ, hình thức, bề ngoài lại ham săn bắn, ăn chơi, không có tinh thần trách nhiệm đối với sứ mạng lãnh đạo của ông."

 

Chính Đạo (2004) cũng cho biết "... Tháng 3-1950, Giám mục Lê Hữu Từ tại Phát Diệm sai Lê Quang Luật vào Nam yêu cầu Diệm đừng "chùm chăn" và "ngang bướng" nữa, cần yểm trợ Bảo Đại." [33] Trong phần chú thích của chuyên luận Cuộc thánh chiến chống cộng, Chính Đạo (2004) cũng đề cập đến lý do ông Diệm không cộng tác với Bảo Đại như sau: "Ngày 24-3-1950, Luật tiết lộ với cơ quan tình báo Pháp (SEHAN) rằng Diệm không thân cận được với Bảo Đại vì bản tính nhu nhược (faible) và thiếu cương quyết (indécis) của Bảo Đại. Nếu lên nắm quyền, Diệm sẽ chống cộng thẳng tay, mà muốn thế cần có sự tín nhiệm và yểm trợ tuyệt đối của Bảo Đại. Điều này chắc không có. Ngoài ra, lập trường chính trị của Diệm cũng khác biệt. Thứ nhất Diệm muốn biết chắc thể chế độ chính trị của Việt Nam sẽ được tương tự như Ấn Độ trong khối Liên hiệp Anh. Nhưng sự bảo đảm chắc chắn này không được chứng tỏ qua thực tế, như việc bàn giao chủ quyền, hay qua sự tiến hoá của các khuynh hướng chính trị tại Pháp... SHAT (Vincennes), Indochine, 10H 1039." [34]

 

(Còn 1 kì)

© 2008 talawas

 

________________________________________

[1]Nguyễn Văn Bường, Việt sử, trang 345.

[2]Phạm Quỳnh giữ chức này mãi đến khi Nhật đảo chính Pháp 9-3-1945. Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (anh trưởng Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (người con trai độc nhất của ông Khôi) cùng bị Việt Minh bắt và bị sát hại ngay sau khi tổ chức này cướp được chính quyền.

[3]Ông Charles là cựu Khâm sứ Trung Kỳ, thân thiết với Vua Khải Định và chăm sóc Bảo Đại trong thời gian ở Pháp cũng như khi Bảo Đại vừa về nước.

[4]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 91. Nguyễn Hữu Bài là bạn thân của Ngô Đình Khả (cha Ngô Đình Diệm), lại còn là nhạc phụ của ông Ngô Đình Khôi (anh trưởng Ngô Đình Diệm) và là người đỡ đầu cho ông Ngô Đình Diệm.

[5]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 93.

[6]Nguyễn văn Bường, Việt Sử, trang 336.

[7]Chính Đạo, Việt Nam Niên biểu, trang 236.

[8]Chính Đạo, Việt Nam Niên biểu, trang 238.

[9]Bùi Bằng Đoàn là thân phụ của Bùi Tín. Ông Tín là Đại tá quân đội cộng sản. Ngày 30--4--1975, vì là sỹ quan cao cấp nhất của quân đội Bắc Việt có mặt lúc đó tại Dinh Độc lập, Ông Tín đã được tướng Dương Văn Minh bàn giao chính phủ. Từ khi ông Tín ra nhập hàng ngũ dân chủ, công khai chống lại nhà cầm quyền cộng sản, sử học chính thống đã gạt bỏ dữ kiện này.

[10]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 158.

[11]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 162. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh cố tình Tuyên ngôn Độc lập một lần nữa.

[12]Vũ Ngự Chiêu, Phía bên kia cuộc Cách mạng 1945: Đế quốc Việt Nam (3-8-1945), trang 81-82.

[13]Chính Đạo, trang 226.

[14]Lê văn Khoa, Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh. Tị nạn. Bài học Lịch sử, trang 424.

[15]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 165.

[16]Tôi nghĩ bụng ông Diệm và ông Chữ là hai người đã được tư lệnh bộ Nhật chú ý lâu ngày, và các ông ấy lại có tổ chức và đảng phái, sao người Nhật lại không nói gì hết? Đang nghĩ ngợi như thế, thì chợt thấy ông Ngô Đình Diệm đến. Ấy là lần đầu tôi gặp mặt ông Diệm vì trước kia tôi chỉ nghe nói thôi chứ không bao giờ gặp.

Ông Diệm hỏi tôi: "Cụ mới về đây à? Cụ có biết tin gì không?".

Tôi đáp: "Tôi mới về, chưa biết gì cả, chắc có tin gì thì ông biết trước tôi. Người Nhật lạ quá, họ chẳng cho chúng tôi biết gì cả. Tôi vừa thấy trong bộ tư lệnh nói ở Huế các bộ thượng thư đã từ chức rồi. Vua Bảo Đại gọi ông Hoàng Trọng Phu vào bàn việc lập chính phủ mới".

"Thế à? Sao người Nhật không cho tôi biết?"

Ngồi nói chuyện qua loa vài câu, rồi ông Diệm đứng dậy nói: "Tôi phải vào tư lệnh bộ có chút việc, sáng sớm mai tôi lại về Vĩnh Long"...

[17]Ngài nói: "Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên bộ thượng thư đã tuyên huỷ hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó với mọi việc."

Tôi tâu rằng: "Việc lập chính phủ, ngài nên dùng những người đã dự định từ trước, như Ngô Đình Diệm chẳng hạn, để có tổ chức sẵn sàng. Tôi nay thì phần già yếu bệnh tật, phần thì không có đảng phái và không hoạt động về chính trị, tôi xin ngài cho tôi về nghỉ."

Ngài nói: "Trẫm có điện thoại gọi cả Ngô Đình Diệm về, sao không thấy về."

Tôi tâu: "Khi tôi qua Sài Gòn, có gặp Ngô Đình Diệm và ông ấy bảo không thấy người Nhật nói gì cả. Vậy hoặc có sự gì sai lạc chăng. Ngài cho điện lần nữa gọi ông ấy về. Còn tôi thì xin ngài cho ra Bắc."

Ngài nói: "Vậy ông hãy ở đây nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc."

Lúc ấy tôi mệt nhọc lắm, và có mấy người như bọn ông Hoàng Xuân Hãn đều bảo tôi trở lại. Tôi chờ đến gần mười ngày. Cách độ ba bốn hôm tôi lại đi hỏi ông tối cao cố vấn Nhật xem có tin gì về ông Diệm chưa. Trước thì cố vấn Nhật nói chưa biết ông Diệm ở đâu, sau nói ông Diệm đau chưa về được. Đó là lời tối cao cố vấn, chứ tự ông Diệm không có điện riêng xác định lại.

[18]Hoành Linh, Hồi ký Đỗ Mậu, Chương 2, Vào đường đấu tranh.

[19]Nguyễn Xuân Chữ,Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ. Những bài học quí báu của một nhà ái quốc liêm chính, nhưng bất phùng thời, trang 251-252:

Khi gặp nhân vật cầm đầu phái bộ Nhật, ông này còn ướm hỏi:

"Ông không nhận vào triều đình Huế, tôi muốn mời ông về Hà Nội làm cố vấn cho quân đội Nhật, ông nghĩ sao?"

"Sau năm, sáu năm ở Việt Nam, người Nhật thông suốt những vấn đề chính sự và quân sự có thể gấp trăm, nghìn tôi, nhận nhiệm vụ lớn lao ông đề nghị thì là tôi không tự biết tôi."

"Ông không nhận một chức vụ gì, sau khi về Bắc, ông sẽ làm gì?"

"Tôi sẽ giở lại nghề thuốc của tôi."

Không hiểu vì lẽ gì, viên Lãnh sự bỗng nhiên đổi giọng:

"Tôi tin lời ông. Nhưng nếu ông tiếp tục hoạt động, chúng tôi sẽ bắt buộc phải nghiêm trị phong trào của ông." (Mais si vous continuez à vous agiter, nous serious obligés de sévir contre votre movement. Câu tiếng Pháp này là nguyên lời nói của lãnh sự).

Trong hai cuộc đàm thoại giữa các tướng lãnh Nhật và với viên Lãnh sự, cũng như trong cuộc đàm thoại đã nói trên với viên Đại tá về chương trình, kẻ viết chỉ ghi chép lại những lời nói và những cảm tưởng riêng. Những lời nói, những hoạt động chính trị có thể có của bạn họ Ngô kẻ viết không thuật lại vì không nhớ rõ hoặc không biết.

[20]Trong Hồi ký Bảo Đại cho biết đã nhận lời nhưng chỉ với lý do "... đi chơi một chuyến..." Khi phái đoàn về nước Hồ đánh điện báo cho vua biết "... Ngài có thể đi chơi nưã. ..." Khi Bảo Đại điện tín muốn về thì không được trả lời. Sau này Hồ gởi bác sỹ Phạm ngọc Thạch đến Hồng Kông tìm vua, qua Thạch nhà vua kiểm chứng và đoan chắc ngaì đã bị Hồ cho lưu đày viễn xứ. Hồ một mặt vẫn công khai coi Bảo Đại như "Cố Vấn Tối Cao", mặt khác lại tung tin Bảo Đại đã trốn lại bên Tàu. ( Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, các trang 235, 241, 247 và 258).

[21]Quan Cách Mạng là từ mà Hồ đã dùng để trìu mến gọi những người theo Hồ. Cụm từ này đã được Hồ xử dụng ngay cả trước khi nắm được chính quyền.

[22]Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi,

[23]Trong thời gian này hầu hết các quốc gia bị thuộc, một cách hoà bình và uyển chuyển, từng bước cũng đã giành lại độc lập cho xứ sở của họ.

[24]Giải pháp này được người Pháp và các học giả ngoại quốc gọi là "giải pháp Bảo Đại". Trong hồi ký, Bảo Đại đã nhiều lần lên tiếng kêu gọi người Việt nên đứng từ góc nhìn của người Việt xem đây là giải pháp của người Pháp, hay là "giải pháp của Pháp". Gọi là "giải pháp Bảo Đại" là một điều hoàn toàn không chính xác. Vai trò của Bảo Đại chỉ là uyển chuyển lợi dụng giải pháp của Pháp để đòi người Pháp từng bước trao trả độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Cách nhìn ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ, cách viết và bài viết.

[25]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, các trang 288.

[26]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 264.

[27]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 310.

[28]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 312.

[29]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 313.

[30]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 313.

[31]Điều 1, bản Tuyên bố chung Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 576.

[32]Trước đây, Pháp có đối thoại với Việt Minh, đại diện nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Với người Pháp nước này chỉ từ vĩ tuyến 16 trở lên. Ở miền Nam, Tháng 5 năm 1946, Nam Kỳ Cộng hoà Quốc đã chính thức được thành lập.

[33]Chính Đạo, Cuộc thánh chiến chống cộng, trang 64 .

[34]Chính Đạo, Cuộc thánh chiến chống cộng, chú thích 121, trang 403 .

 

Nguyễn Quang Duy

Kỳ 2

 

Một lựa chọn dân chủ trong quá khứ: Hoàng đế Bảo Đại - Thủ tướng Ngô Đình Diệm

 1 2 

 

Ngô Đình Diệm vận động Bảo Đại

Ngô Đình Diệm sang Nhật gặp Cường Để rồi sang Hoa Kỳ vận động sự ủng hộ của chính giới nước này. Giáo sư Edward Miller đã nhắc đến: "Thất bại trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Thục tiếp tục sang Châu Âu vào tháng 10 năm 1950. Sau này Ngô Đình Diệm kể lại là ông đã gặp Giáo hoàng ở Vatican; ông cũng sang Paris một thời gian ngắn, gặp gỡ các quan chức Việt và Pháp ở đó và gửi một thông điệp tới Bảo Đại. Thông điệp này mang lời đề nghị làm thủ tướng Quốc gia Việt Nam tới Ngô Đình Diệm, với điều kiện là ông có đủ thẩm quyền để cai trị các cơ quan hành chính vùng miền trong Việt Nam. Đề nghị này có vẻ là bước lui của Ngô Đình Diệm, vì trong đó không ghi yêu cầu trước đây của ông đòi quyền tự trị lãnh thổ thì ông mới đồng ý phục vụ trong chính phủ của Quốc gia Việt Nam. Nhưng Bảo Đại không ấn tượng với khả năng mềm dẻo mới có này của Ngô Đình Diệm, và chỉ trả lời chung chung." Không thấy Bảo Đại trình bày việc này trong hồi ký của ông.

 

Tháng 6-1953, Linh mục Cao Văn Luận nhân chuyến đi Hoa Kỳ có ghé Paris và thăm Ngô Đình Diệm. Linh mục Luận đã hỏi ông Diệm "Lúc ni chính là lúc cụ phải về nước chấp chánh. Hồi trước, cụ đã tiên đoán giải pháp Bảo Đại sẽ thất bại hẳn rồi, chắc thế nào Hoa Kỳ cũng phải can thiệp. Mấy năm ni cụ đã tạo được uy tín với Mỹ. Tôi tưởng đây là lúc tình hình đã chín mùi rồi." Đựơc ông Diệm trả lời: "Nhưng tôi sang Ba-Lê đã mấy tháng mà cũng chưa thấy Bảo Đại nói chi không lẽ lại phải đi năn nỉ cầu cạnh, nên đành phải chờ."

 

Linh mục Luận suy luận: "... tôi đã cố tránh nhắc lại tên Nguyễn Đệ với ông Diệm, nhưng khi chia tay ông Diệm rồi, tôi thấy rõ sự hiềm khích giữa ông Diệm với Đệ trở thành một vấn đề đáng kể. Viên chánh văn phòng này hiện đang lãnh sứ mạng của Bảo Đại mở các cuộc tiếp xúc tìm người về chấp chánh. Vậy mà ông Diệm với Đệ lại không thể nói chuyện với nhau, như vậy làm sao để ông Diệm có thể vượt qua cửa ải này mà gặp Bảo Đại thu xếp việc nước. Tôi quyết định phải đi tìm gặp ngay Nguyễn Đệ." Cũng cần biết trước đây Nguyễn Đệ và Ngô Đình Diệm là bạn rất thân, cùng tham gia Nội Các đầu tiên, ông Diệm từ chức ông Đệ cũng từ chức theo. Và đã có lúc Bảo Đại lo ngại ông Đệ là người của Toà thánh Vatican vì ông là người Công giáo, rất gần guĩ với Toà thánh và đã được Toà thánh giới thiệu.

 

Khi Linh mục Luận đến gặp ông Để cho biết: "... Nhưng hẳn cha cũng rõ, việc ông Diệm về nước hay không còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố, phần ở quốc dân, phần ở Đức quốc Trưởng, phần ở chính ông Diệm... Cha đã gặp ông Diệm và biết hết mọi chuyện rồi, thành thử con cũng xin thưa thật với cha: Đức Quốc Trưởng cũng như con đầu đã nghĩ tới ông Diệm, không phải bây giờ mà từ năm 1948, khi đón cha lên Đà Lạt. Nhưng kẹt cái là anh em họ Ngô xưa nay vốn kiêu ngạo quá lố. Dù con có muốn lo cho ông Diệm về đi nữa, thì chính ông cũng phải gặp Đức Quốc Trưởng mà trình bày với ngài. Không lẽ cha đòi con phải đưa Đức Quốc Trưởng tới lạy ông Diệm sao?" Cuối cuộc gặp, ông Đệ đồng ý: "Con xin hứa với cha nội trong mùa hè này, bằng mọi cách con sẽ thu xếp để đưa ông Diệm xuống Cannes gặp Đức Quốc Trưởng. Cha có gặp lại ông Diệm, xin cha nói rõ lòng con cho ông biết."

 

Năm 1951, Ngô Đình Diệm trở về Hoa kỳ. Do cùng được Hồng y Francis Spellman, Ngô Đình Diệm đã sinh hoạt chung với Linh mục Trần văn Kiệm trong cùng một nhà dòng. Theo Linh mục Kiệm trong thời gian 2 năm tại đây ở ông Diệm có hai mục tiêu đeo đuổi. Mục tiêu số một ông nhằm là tìm nhân tài trong số các sinh viên du học tại Hoa Kỳ và Canada. Mục tiêu số hai là ông nghiên cứu tại chỗ chính thể và chính trường Hoa kỳ.

 

Linh mục Kiệm cũng cho biết: "Mùa hè năm 1953, trung tuần tháng 6, ông Diệm gọi tôi mà nói: "Hoàng đế Bảo Đại mời tôi trở về nước chấp chính." "... Tại sao Hoàng đế Bảo Đại kêu gọi chí sĩ Diệm sớm sủa như thế này?" Được hỏi Cụ trả lời rất dứt khoát: " Được Mỹ bật đèn xanh, không phản đối việc tôi quy cố hương là đủ. Chắc rằng về nước nhà rồi, tôi sẽ còn cần họ tiếp sức mới hãn ngữ được đường tiến của Mạc tư khoa, Bắc kinh và Hà nội. Như vậy là bõ công tôi sống hơn hai năm ở Hoa kì . Việc tôi trở về sẽ không do Hoa thịnh đốn quyết định, nhưng sẽ tuỳ thuộc công cuộc Hoàng đế Bảo Đại dàn xếp với Champ Élizée có hanh thông hay chăng." Ít lâu sau ông Diệm có gửi cho Linh mục Kiệm một bức thư kể vắn tắt rằng: "công cuộc Hoàng đế Bảo đại điều đình với Pháp không xuôi xẻ."

 

Trong hồi ký, không thấy Bảo Đại nhắc đến có ý định hay đã mời Ngô Đình Diệm trong 3 lần, năm 1949, 1951 và 1953 như được các nhân vật khác kể lại. Chỉ thấy Bảo Đại đã viết rất rõ lý do mình chọn Bửu Lộc: "Tôi chọn Bửu Lộc để dự trù trong việc ngoại giao quốc tế, sẽ họp trong năm 1954. Bửu Lộc đã ở cạnh tôi rất lâu mỗi khi tôi về nghỉ ở Pháp. Như vậy, ông ta thường có dịp học hỏi và quen biết với giới chính trị Pháp, và các nhân vật ngoại quốc khác." [1]

 

Trong bài viết "Ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền như thế nào?" đăng trên Thông Luận số 191, Nguyễn Gia Kiểng, dựa trên 2 lá thơ, lá thứ nhất của ông Jacqué Bénet, bạn thân của ông Ngô Đình Nhu, gởi bà Nhu đề ngày 18-4-2004, và lá thứ hai đề ngày 20-4-1955, để chứng minh ông Diệm do người Pháp gây áp lực Bảo Đại đưa lên cầm quyền.

Ông Kiểng đã viết bài này trong tinh thần hoàn toàn chủ quan, và vì một lý do nào đó không phổ biến hai lá thơ kể trên để người đọc có thể tự mình đánh giá. Theo ý kiến của người viết bài này, Bảo Đại, trái lại, luôn luôn cố gắng điều đình và thuyết phục người Pháp chấp nhận Ngô Đình Diệm. Có vô số tài liệu và chứng cớ chỉ thấy Ngô Đình Diệm không được hỗ trợ của Pháp. Trong bài ông Kiểng đề cập tới việc trực tiếp nói chuyện với ông Ngô Đình Luyện và được "ông Ngô Đình Luyện khẳng định là quyết định đưa ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền hoàn toàn do ông Bảo Đại, chính phủ Hoa Kỳ hoàn toàn không có vai trò gì và chỉ biết đến ông Diệm sau khi ông Diệm đã nhậm chức Thủ tướng. Còn Pháp thì không những không giúp gì mà còn phá ông Diệm." Nỗ lực của ông Jacqué Bénet, nếu có, chỉ là giảm bớt sự chống đối của chính phủ Pháp và tiếp tay với Bảo Đại đưa Ngô Đình Diệm lên cầm quyền.

 

Ngô Đình Diệm một lựa chọn dân chủ

Quyển Con rồng Việt Nam - Hồi ký chính trị của Bảo Đại đã nhắc đến hàng trăm nhân vật Việt Nam và ngoại quốc, lần đầu được phổ biến bằng Pháp ngữ năm 1980. Sau nhiều năm nhiều người vẫn còn sống, không có người nào đính chính, như vậy đủ xác nhận mức độ trung thực của nó. Cũng như giới khoa bảng đối chiếu các diễn biến lịch sử với các tài liệu khác đã xác nhận quyển hồi ký lịch sử này có mức độ khả tín cao, nếu không nói là tuyệt đối. Quyển hồi ký đã được Nguyễn Phước tộc dịch ra tiếng Việt năm 1990. Càng ngày quyển hồi ký càng được giới nghiên cứu để tâm và không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu về Việt Nam trong giai đoạn 1945-1954. Trong hồi ký của mình, Bảo Đại đã viết rất rõ về sự lựa chọn Ngô Đình Diệm làm thủ tướng năm 1954. Cũng như đối với hầu hết các thủ tướng khác, công việc [lựa chọn] này gồm ba giai đoạn:

 

Giai đoạn thứ nhất là đánh giá về Ngô Đình Diệm. Ý kiến của Bảo Đại như sau: "... Trước đây tôi đã dùng ông Diệm, tôi biết rằng ông ta vốn khó tính. Tôi cũng biết về sự cuồng tín, và tin vào đấng cứu thế. Nhưng trong tình thế này, không còn có thể chọn ai hơn. Thật vậy, từ nhiều năm qua, người Mỹ đã biết ông, và rất hâm mộ tính cương quyết của ông. Trước mắt họ ông là nhân vật có đủ khả năng đối phó với tình thế, vì vậy Washington sẵn sàng hổ trợ ông. Nhờ thành tích cũ, và nhờ sự có mặt của em ông, đang đứng đầu Mặt trận Đoàn kết Cứu quốc, ông được nhiều nhà quốc gia cuồng nhiệt ủng hộ, các vị này từng làm đổ chính phủ Tâm và chính phủ Bửu Lộc. Tóm lại nhờ cương quyết và cuồng tín, ông là người chống cộng chắc chắn. Đúng vậy, đó là người của hoàn cảnh." [2] Như vậy Bảo Đại đã đã thăm dò nhiều khuynh hướng khác nhau: Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Toà thánh Vatican, các tổ chính trị, các tôn giáo Việt Nam, trước khi tiến đến việc mời ông Diệm đứng ra thành lập nội các.

 

Giai đoạn thứ hai, Bảo Đại "cho vời đến Cannes các lãnh tụ của tất cả các phong trào chính trị và tôn giáo ở Việt Nam để hỏi ý kiến. Tôi cho họ biết cái gì đã xảy ra, rằng tất cả đều đã được xếp đặt trước, đến chỗ sẽ chia đôi đất nước. Tôi vạch cho họ sự cần thiết đặt một đường hướng mới, là gợi ý họ cho thay thế Hoàng thân Bửu Lộc bằng Ngô Đình Diệm, để cầm đầu chính phủ. Tất cả hoan nghênh ý kiến của tôi." [3] Công việc này nhằm minh xác đánh giá cá nhân, chính thức xác nhận sự hổ trợ, để từ đó ông Diệm có được một chính danh, khả dĩ tìm kiếm được sự hổ trợ từ các tổ chức chính trị, tôn giáo, quốc dân và Đồng minh.

 

Giai đoạn cuối là chính thức thông báo, thuyết phục và tấn phong ông Diệm: "Đây là Chúa của ông đây. Ông hãy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó, để chống lại bọn cộng sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa." [4]

 

Đối chiếu với hồi ký của Bùi Diễm, Bảo Đại đã chọn Ngô Đình Diệm là vì "chẳng qua là một chính sách dùng người mà ông Bảo Đại đã áp dụng từ trước đến nay: ông chọn người để đối phó với từng giai đoạn một, và ông vẫn tự tin có đủ khéo léo để chọn người đúng lúc và đúng chỗ." [5] Thực vậy, trong hồi ký Bảo Đại đã kể lại khá rõ chính sách dùng người theo từng giai đoạn của mình.

 

Khoảng tháng 6 năm 1954, Bùi Diễm trực tiếp nêu câu hỏi: "Thưa Ngài, Ngài thấy ông Diệm thế nào?" Bảo Đại trả lời "Ông Diệm có thể là một giải pháp, nhưng theo anh, ông Diệm có được Mỹ ủng hộ không?" Bùi Diễm hỏi lại: "Thưa Ngài, sao Ngài không hỏi thẳng người Mỹ?" Bảo Đại đáp lại: "Có chứ, tôi sẽ tìm hiểu, nhưng nếu anh dò hỏi được thêm thì anh cho tôi biết." [6]

 

Về việc tấn phong Ngô Đình Diệm, Bùi Diễm cho biết: "Vào cuối năm 1991, tôi có dịp trở lại thăm Cựu hoàng Bảo Đại tại Ba Lê. Trở lại chuyện cũ, tôi có hỏi ông về vấn đề này, thì ông trả lời rằng: vào thời kỳ đó, thái độ của Hoa Kỳ cũng không có gì rõ rệt cả, tuy nhiên ông đã quyết định chọn ông Diệm vì ông cho rằng trong số những nhân vật làm chính trị ở miền Nam lúc đó, ông Diệm rõ ràng là người ít dính líu tới Pháp trong những năm về sau này, nên có thể dễ được người dân ủng hộ hơn những người khác. Đây là một sự trớ trêu của lịch sử. Những diễn biến về sau này cho thấy khi bổ nhiệm ông Diệm làm Thủ tướng, Quốc trưởng Bảo Đại đã tự mình tạo những điều kiện đưa tới sự đào thải của chính mình và cả triều đại của nhà Nguyễn. Chắc chắn lúc đó ông không có một chút ngờ vực ông Diệm, một người đã từng làm quan trong triều đình cũ vào thập niên 1930. Ông cho rằng ông Diệm chẳng thể nào nghĩ đến việc lật đổ ông, vả lại bất cứ một Thủ tướng nào, nếu không còn hữu dụng nữa, thì cũng có thể bị thay thế. Tuy nhiên, trong dịp gặp lại tôi năm 1991, ông không hề tỏ lời oán trách ông Diệm." [7]

 

Tại sao Bảo Đại trao toàn quyền cho Ngô Đình Diệm?

Ngô Đình Diệm đã nhận trọng trách lãnh đạo đất nước trong một tình thế cực kỳ khó khăn đó là đánh giá tình hình của Bảo Đại. Trong hồi ký, Bảo Đại viết: "Công việc không dễ dàng gì cho Ngô Đình Diệm. Việc ông đến Saigon chẳng được ai hoan nghênh. Cần phải động viên tinh thần mọi người cả nước đã rơi vào tình trạng hoang mang. Ngày 30 tháng 6 ông ta ra Hà-nội mà những điều ông ta thấy không ai có thể tưởng tượng được. Chống lại cộng sản chẳng ai nghĩ đến... Trái lại nữa người Pháp bắt đầu di tản trước tiên... Hàng trăm ngàn người đau khổ trong đó có những người Công giáo thuộc các giáo phận miền Bắc mà ông tin tưởng sẽ đứng bên cạnh ông, thì chỉ nghĩ đến chạy vào Nam. Thật đã quá chậm, không thể hành động gì được nữa. Diệm trở về Sài Gòn. Ngày 9 tháng 7, ông lập chính phủ không phải dễ dàng gì. Cuối tháng 6, cuộc hành quân bi thảm ở đèo An Khê, cả đoàn quân bị tan rã vì sa vào ổ phục kích rộng lớn của Cộng sản..." [8]

 

Nhiều người vẫn tin rằng việc Bảo Đại trao toàn quyền về chính phủ và quân sự là theo đòi hỏi của Ngô Đình Diệm. Thực ra, trong Hồi ký Bảo Đại đã giải thích khá rõ: "Sau Hội nghị Genève, tất cả mọi người đều xa lánh tôi. Người Anh, người Mỹ, người Pháp đều không biết đến tôi nữa. Không ai còn đến gặp tôi. Riêng có phái đoàn Việt Minh cử một người có tên là Văn Chỉ, đến xin gặp nói là đại diện của Phạm Văn Đồng... Chính là sau cuộc gặp gỡ này tôi đã trao toàn quyền cho Ngô Đình Diệm." (Xin xem chú thích để biết toàn bộ cuộc gặp) [9]

Trong cuộc gặp gỡ này Văn Chỉ đã chuyển lời thượng cấp, Việt Minh sẽ sẵn sàng làm theo lệnh Bảo Đại nếu được gọi. Với tấm lòng vì đất nước và kinh nghiệm với cộng sản, để tránh cho miền Nam lại lọt vào tay quân cộng sản, Bảo Đại đã từ chối cộng tác với Việt Minh, hiểu được tình trạng khó khăn ông Diệm đang phải đối đầu, nên quyết định trao toàn quyền cho Ngô Đình Diệm.

 

Trong quyển hồi ký, Từ làng Gôi Vị đến kinh thành Paris, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, phụ trách tổ chức Việt kiều ở Ba Lê, viết rất rõ về nhân vật Việt Minh Văn Chỉ này: "Mặt khác, chúng tôi gửi về trong nước những nhận định về tình hình ở Pháp, về thái độ của các đảng khác, về các phong trào của nhân dân Pháp. Việc này phải kín đáo, chỉ có tôi với anh Nguyễn Văn Chỉ cùng làm. Anh Chỉ hơn tôi khoảng năm tuổi. Hồi 1930, anh đã tham gia phong trào chống lại vụ án xử tử hình một số cán bộ trong cao trào Xô-viết Nghệ - Tĩnh. Anh sang Pháp học lâu rồi, tiếng Việt nói không thạo, đi lại với anh em Việt kiều cũng không tiện lợi, mà lúc bí mật càng tốt. Anh Chỉ còn có thuận lợi là mang quốc tịch Pháp, nếu anh không làm gì phạm pháp, thì Chính phủ Pháp không có quyền bắt anh vì ý kiến về chính trị và cũng không có quyền trục xuất anh. Anh rất trung kiên, tận tuỵ. Suốt cả thời gian dài, cứ mỗi buổi sáng, anh đi mua mười mấy tờ báo lớn của Pháp, xem kỹ, chỗ nào cần chú ý, gạch chì xanh, gạch đỏ vào, dán lại rồi nhờ Trung ương Đảng Pháp gửi về Việt Nam. Cứ như thế, cần cù, chăm chỉ từ ngày này qua ngày khác, hết tháng này qua tháng khác. Ngoài ra anh không phải là đảng viên, nên có lợi thế trong việc quan hệ với các chính khách, các tổ chức ngoài Đảng Cộng sản Pháp, qua đó tập hợp được nhiều tin tức. Chúng tôi gặp nhau thường xuyên để trao đổi, nhận định tình hình để kịp chuyển về trong nước. ở các tỉnh cũng có một số anh em liên hệ được như thế." [10] Bảo Đại đã nhớ cả tên của cán bộ điệp báo Việt Minh Văn Chỉ này chứng tỏ cuộc gặp gỡ với người này thực sự có một ảnh hưởng rất lớn đến quyết định tối hậu của Bảo Đại.

 

Việc đối chiếu hai quyển hồi ký đã cho thấy cuộc gặp gỡ với Văn Chỉ đúng là một sự kiện lịch sử dẫn đến việc Bảo Đại đã trao toàn quyền cho Ngô Đình Diệm.

Khác với huyền thoại cho rằng đó là đòi hỏi của ông Diệm. Huyền thoại này đã được hầu hết các học giả (nếu không nói là tất cả) tin theo, trong đó có giáo sư Edward Miller.

 

Truất phế Bảo Đại

Vai trò Bảo Đại với đất nước đã chấm dứt từ khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho trưng cầu dân ý về một chế độ chính trị cho miền Nam. Trong bài viết "Truất phế Bảo Đại và khai sinh Đệ nhất Cộng hoà", Lâm Lễ Trinh, nguyên Bộ trưởng Nội vụ (1955-59) thời Tổng thống Diệm, đã thuật lại đầu đuôi câu chuyện truất phế Quốc trưởng Bảo Đại. Theo bài viết này việc truất phế là một việc làm hoàn toàn ngoài ý muốn của ông Diệm. Ông Trinh còn cho rằng thậm chí lương tâm ông Diệm cảm thấy đã phạm tội khi quân. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý là 98,2 phần trăm dân chúng muốn truất phế nhà vua. Kết quả này bị nhiều người cho là gian lận. Bản thân ông Trinh cũng cho rằng kết quả kia là không hoàn toàn trung thực.

 

Trong hồi ký, Bảo Đại đã nhẹ nhàng chấp nhận kết quả cuộc trưng cầu. Nhà vua chỉ đưa ra nhận xét về cuộc chơi: "Sự trình bày khôn khéo, sự lựa chọn của cử tri đã được hướng dẫn một cách rõ ràng." [11] Tận trong thâm tâm, Bảo Đại đã thấu hiểu việc ông Diệm làm là vì dân vì nước, nên đã rất thông cảm cho ông Diệm. Bảo Đại cũng sáng suốt nhận ra rằng "thời" của mình đã hết.

 

Mặc dù Bảo Đại thông cảm cho hoàn cảnh và việc làm của Ngô Đình Diệm mà Bảo Đại nghĩ là vì dân vì nước, chiến dịch truất phế Bảo Đại vẫn còn hằn nét đến ngày nay. Hãy xem lại một đoạn hồi ký của Đỗ Mậu để mường tượng lại chiến dịch này: "Năm 1955, với vị thế là cán bộ chính trị trung niên của Thủ tướng Ngô Đình Diệm, với tư cách là chủ tịch phong trào Cách mạng Quốc gia của bốn tỉnh duyên hải khu vực Nam Trung phần, tôi đã hăng say hoạt động cho chiến dịch truất phế Bảo Đại mà tôi cho là không còn đủ khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống cộng, và không còn đủ vóc dáng để khai mở một kỷ nguyên dân chủ cho đất nước nữa. Thật ra thì dân ý đang đòi hỏi và hướng về một cuộc thay đổi gốc rễ để đáp ứng với biến đổi mới của thời đại, và ông Diệm trên mặt chính trị không cần gian lận và trên mặt luân lý không cần dùng thủ đoạn vu khống hạ nhục Bảo Đại thì cũng có thể, một cách rất lương thiện và dân chủ, thắng phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý này.

Nhưng những tài liệu do Bộ Thông tin Sài Gòn gởi ra cũng như những chỉ thị mật của Phong trào Cách mạng Quốc gia từ Huế gởi vào cho tôi đều chủ yếu tập trung vào việc lên án những tội lỗi của Bảo Đại: Bảo Đại bù nhìn, Bảo Đại dâm ô, Bảo Đại tham nhũng, Bảo Đại vô đức vô tài... Lên án không chưa đủ, chỉ thị còn bắt phải khơi dậy lòng căm thù Bảo Đại trong quần chúng nữa! Cả một chiến dịch bao trùm từ Cà Mau đến Bến Hải, chính quyền yểm trợ trên cả hai mặt nội dung lẫn phương tiện, hung hăng và rầm rộ tìm cách đạp Bảo Đại xuống bùn dơ của lịch sử.

Cả nước được vận động để phỉ nhổ Bảo Đại như là một hiện thân xấu xa nhất, hơn cả Lê Chiêu Thống và Lê Long Đĩnh. Hai đài phát thanh Sài Gòn và Huế, phối hợp với báo chí trong gần một tháng trời, liên tục mạt sát Bảo Đại và thúc giục dân chúng quất roi và đốt lửa những hình nộm Bảo Đại. Chiến dịch to lớn của một nhân vật quốc gia chống cộng (theo Mỹ) để truất phế một nhân vật quốc gia khác cũng chống cộng (nhưng theo Tây) còn tàn độc và khủng khiếp hơn chiến dịch hạ bệ Bảo Đại của kẻ thù là cộng sản Việt Minh thời 1948, 1949, khi giải pháp Bảo Đại mới ra đời để đối phó với Hồ Chí Minh." Nếu có một cuộc tham khảo rộng rãi ý kiến những vị trên 60 tuổi sẽ thấy được tuyệt đại đa số có một cách nhìn hết sức tiêu cực về vị hoàng đế cuối triều Bảo Đại.

 

Đó là chưa nói đến những tài liệu "lịch sử" của cộng sản "đổi trắng thay đen" theo từng nghị quyết. Vừa rồi giới sử gia "chính thống" mở chiến dịch "nhìn nhận và đánh giá lại vai trò của nhà Nguyễn trong lịch sử", âu cũng là một điều tốt. Tuy thế, nếu chế độ cộng sản còn tồn tại, có lẽ phải cả trăm năm nữa vai trò của Hoàng đế Bảo Đại mới được đánh giá một cách công bằng, trung thực và khách quan, nếu không nói là chẳng bao giờ. Từ tư tưởng đến hành động, Bảo Đại là người quốc gia, không chấp nhận cộng sản, nếu không nói là tích cực chống cộng.

 

Kết luận

Bài tiểu luận này chỉ sử dụng một số những dữ kiện nhằm mục đích góp thêm vào công trình nghiên cứu của giáo sư Edward Miller. Trong chuyên luận của mình, Edward Miller có một số nhận xét và đánh giá sai về Bảo Đại và Ngô Đình Diệm. Một phần vì ông đã cố gắng chỉ ra nỗ lực tích cực của Ngô Đình Diệm và các đồng minh người Việt của ông Diệm. Phần khác, Edward Miller dựa nhiều trên các nghiên cứu khác, mà phần chính các công trình nghiên cứu này lại dưạ trên những tài liệu và tường trình chính thức mang nặng chính trị và tuyên truyền. Đó là chưa kể nhiều huyền thoại đã được thêu dệt về cá nhân ông Diệm. Cuộc sống trung dung và cởi mở của Bảo Đại lại cũng là những đề tài nóng hổi cho báo chí trong và ngoài nước trong một thời gian dài khai thác. Không ít tin tức báo chí nóng hổi này, do thiếu kiểm chứng, đã được đưa vào những công trình nghiên cứu.

 

Bài tiểu luận này dùng phương pháp đối chiếu các hồi ký để chỉ rõ Ngô Đình Diệm chấp chính là một chọn lựa dân chủ của Bảo Đại, với sự đồng thuận của tất cả các tôn giáo, các phong trào chính trị và đảng phái quốc gia tại Việt Nam. Muốn hiểu rõ và phân tích sâu hơn về hai nhân vật lịch sử Bảo Đại và Ngô Đình Diệm cần nghiên cứu về các yếu tố khác như gia đình, cá tính, giáo dục,... là giới hạn chưa được tiếp cận của bài viết này.

 

Qua quyển hồi ký Con rồng Việt Nam, Bảo Đại do nhìn ra được tài đức Ngô Đình Diệm, đã luôn luôn quý trọng, tin cẩn và xem Ngô Đình Diệm như ứng viên sáng giá nhất trong mọi giai đoạn. Bảo Đại đã chính thức chọn ông Diệm để mời lãnh đạo chính phủ tới bốn lần vào các năm 1933, 1945, 1948 và 1954, mặc dù ông này chỉ nhận hai lần vào năm 1933 và 1954. Một số nguồn tư liệu khác còn cho thấy có thể Bảo Đại đã có ý định hay đã mời Ngô Đình Diệm ra chấp chính trong ba lần khác nữa, và các năm 1949, 1951 và 1953.

 

Nhờ chính thống, có viễn kiến và cá tính, trong vai trò Quốc trưởng và trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước, Bảo Đại đã thăm dò nhiều thế lực chính trị khác nhau: Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Toà thánh Vatican, các tổ chức chính trị, các tôn giáo Việt Nam, trước khi đi đến quyết định mời một thành viên thành lập một nội các mới. Trong thời gian 1947-54, Bảo Đại luôn tìm cách kết hợp các tôn giáo, đảng phái, các tổ chức quốc gia, các cá nhân ưu tú chung quanh mình, tìm quyết định chung, để đồng thuận về nhân vật lãnh đạo chính phủ. Nhờ vậy, tất cả các nội các Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Bửu Lộc và Ngô Đình Diệm đều bao gồm nhiều đảng phái và tổ chức quốc gia. Sau nhiều năm nô lệ, rồi lại chiến tranh, và vẫn chưa hoàn toàn độc lập thống nhất, Bảo Đại đã thiết lập được một guồng máy dân chủ, bước đầu thực hiện tốt những chức năng của một thể chế Quân chủ Lập Hiến. Tạo được nền tảng của sinh hoạt dân chủ như vậy một điều không dễ. Phải là một bậc minh quân mới có thể làm được điều này. Bảo Đại cũng đã sửa soạn để tiến đến bước thứ hai: Quốc hội đề nghị ứng viên, Quốc trưởng tấn phong ứng viên. Nội dung này sẽ được bàn sâu hơn trong một dịp khác.

 

Người viết xin được dùng nhận xét của Hoàng đế Bảo Đại về Tổng thống Ngô Đình Diệm để tạm kết bài viết. Khoảng giữa năm 1992, trong một buổi nói chuyện của Bảo Đại tại một trường học ở Pháp, được nhà báo Phan Văn Trường ghi lại và dịch từ Pháp văn như sau: "Ông Diệm là người tôi tín nhiệm. Lúc đó thế lực của Pháp đã thất bại. Phía cộng sản đã được Liên Xô tích cực ủng hộ về mọi mặt nên tôi khuyên ông Diệm nên tìm sự ủng hộ của Mỹ để có thể ngăn chặn (endiguer) sự bành trướng của cộng sản. Việc ông ta lật tôi là do sức ép của chính trị.

Ông Diệm là người yêu nước. Lúc trao quyền, tôi có yêu cầu ông ấy cam kết với tôi hai điều trước bàn thờ Chúa, vì ông ấy rất mộ đạo, là phải giữ vững miền Nam, và nếu không làm được sứ mạng ấy thì phải trao trả quyền lại cho tôi. Nhưng rồi ông ta đã chết khi thi hành nhiệm vụ. Dù sao thì ông ta cũng cố giữ những lời cam kết ấy mà không được." [12]

 

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi, 27-10-2008

 

Bảo Đại, 1990, Con rồng Việt Nam _ Hồi ký chính trị 1913-1987, Nguyễn Phước tộc xuất bản.

Bùi Diễm, 2000, Gọng kìm lịch sử _ Hồi ký chính trị, Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai.

Chính Đạo, 1997, Việt Nam niên biểu _ 1939-1975 (Tập B: 1947-1954), Văn Hoá, Houston, Hoa Kỳ.

Chính Đạo, 2004, Cuộc thánh chiến chống cộng, Văn Hoá, Houston, Hoa Kỳ.

Hoành Linh, Đỗ Mậu, Hồi ký Đỗ Mậu, www.vnthuquan.net

Edward Miller, "Viễn kiến, quyền lực và tính chủ động: Con đường lên nắm quyền của Ngô Đình Diệm, 1945-1954", Hoài Phi, Vy Huyền dịch, www.talawas.org

Linh mục Cao Văn Luận, 1969, Bên giòng lịch sử 1940-1965, Sài Gòn, www.vnthuquan.net

Lâm Lệ Trinh, 2005, Truất phế Bảo Đại và khai sinh Đệ nhất Cộng hoà, www.lichsuviet.cjb.net

LM An-tôn Trần văn Kiệm, 2005, Có phải Hoa Thịnh Đốn đã đưa Ông Diệm về làm Tổng thống Đệ nhất Cộng hoà Việt Nam?, (www.vietnamreview.com)

Lê Xuân Khoa, 2004, Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh. Tị nạn. Bài học lịch sử, Tập I, Tiên Rồng xuất bản.

Minh Võ, 1999, Ngô Đình Diệm: Lời khen. Tiếng chê, www.tvvn.org

Nguyễn Khắc Viện, Từ làng Gôi Vị đến kinh thành Paris, (www.vnthuquan.net)

Nguyễn Xuân Chữ, 1996, Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ, Những Bài Học Quí Báu của Một Nhà Ái Quốc Liêm Chính, Nhưng Bất Phùng Thời, Nguyễn Xuân Phác và Chính Đạo hiệu đính, Nhà Xuất Bản Văn Hoá, Houston, Hoa Kỳ.

Nguyễn Văn Bường, Việt sử, Tủ sách Sử học Việt Nam, trọn bộ hai quyển, Sài Gòn.

Nguyễn Gia Kiểng, 2005, "Ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền như thế nào?", www.thongluan.org

Vũ Ngự Chiêu, 1996, Phía bên kia cuộc Cách mạng 1945: Đế quốc Việt Nam (3-8-1945), Văn Hoá, Houston, Hoa Kỳ.

 

© 2008 talawas

 

________________________________________

[1]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 498.

[2]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 516.

[3]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 514.

[4]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 514

Sau khi thảo luận với ông Foster Dulles để cho ông ta biết ý định ấy, tôi cho vời Ngô Đình Diệm và bảo ông ta:

"Cứ mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ."

"Thưa hoàng thượng, không thể được ạ." Ông ta đáp. "Tôi xin trình ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu..."

"Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay tôi kêu gọi đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy."

Sau một hồi yên lặng cuối cùng ông ta đáp: "Thưa hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng mà Ngài trao phó."

Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một phòng bên cạnh, trong đó có cây thánh giá. Trước thánh giá tôi bảo ông ta: "Đây Chúa của ông đây, ông hãy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó để chống lại bọn cộng sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa."

Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nhìn tôi, sau nhìn lên Thánh giá, ông nói với giọng nghẹn ngào: "Tôi xin thề."

[5]Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử , Chương 12, trang 146.

[6]Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử , Chương 12, trang 144.

[7]Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử , Chương 12, Chú thích 1, trang 146-147.

[8]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 517-518.

[9]Toàn bộ cuộc gặp đã được Bảo Đại kể lại như sau:

"Thưa Hoàng thượng", ông ta hỏi tôi, "Ngài nghĩ sao về Hội nghị Genève?"

"Đó là việc giữa các anh và nước Pháp."

"Thưa Hoàng thượng, người ta đã cắt nước Việt Nam thành hai. Vua Gia Long, Đức Tiên đế đã từng thống nhất đất nước, và sau này, Ngài đã phục hồi lại được. Tôi nghĩ rằng Ngài khó có thể chấp nhận sự việc đã xảy ra tại Genève."

"Anh định đề nghị cái gì?" Tôi hỏi lại ông ta.

"Thượng cấp của tôi đã bảo tôi đến nói với Ngài là họ sẵn sàng quên Hiệp ước Genève và các cuộc bầu cử, để định cùng Ngài bắt tay đi đến thống nhất đất nước." "Nhưng anh định thống nhất như thế nào?"

"Thưa Hoàng thượng thật giản dị. Xin Hoàng thượng trở lại Sài Gòn, và gọi đến chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng làm việc với Ngài, theo lệnh của Ngài."

"Như vậy chính tôi sẽ đưa chế độ cộng sản vào Sài Gòn?" "Thưa Hoàng Thượng, không phải chỉ có người cộng sản ở đây, đối với chúng tôi, Ngài là bậc quốc phụ của khắp toàn dân Việt Nam. Hẳn Ngài không thể quên đã có hằng ngàn người chết, đã hy sinh cho tổ quốc."

"Thế thì tại sao mãi đến giờ phút này, các anh mới tìm tôi? Các anh có thể làm như thế cách đây đã ba năm. Như thế các anh đã tránh được bao sự chém giết vô ích. Trong các bản tuyên bố của tôi, không bao giờ tôi đả kích cá nhân ông Hồ Chí Minh... Và đến bây giờ, khi tất cả đã được dàn xếp, các anh mới lại tìm tôi? Và các anh vẫn còn tiếp tục. Các anh ngày nay lại lao đầu vào cuộc chiến mới, làm xáo trộn tất cả đất nước, nhất là về địa hạt kinh tế, mà tôi đã dày công xây dựng từ từ 1949. Tất cả sự ấy, tại sao? Trong hy vọng lừa bịp để đặt nền móng cho một chủ thuyết không mấy thích hợp với tâm hồn người Việt chúng ta."

"Thưa Hoàng thượng, Ngài rất có lý. Nhưng xin Hoàng thượng đừng quên, Ngài đứng trên tất cả, Ngài là cha của toàn dân chúng tôi và Ngài có nhiều con đã phải hy sinh và chết cho đất nước." Chính là sau cuộc gặp gỡ này tôi đã trao toàn quyền cho Ngô Đình Diệm.

(Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 522-523).

[10]Sau Hiệp định Genève vài tháng, tháng 11 năm 1954, hai ông Viện và Chỉ đã bị Cảnh sát chính trị bắt giữ trong vài tiếng đồng hồ để điều tra về các hoạt động của hai ông. Ông Viện cho biết:"Đối chiếu việc hỏi cung hai người, tôi và anh Chỉ biết rằng thực chất việc cảnh sát bắt chúng tôi hỏi cung không phải vì vấn đề Việt kiều mà là vấn đề nội trị của nước Pháp. Họ muốn dò xem tôi và anh Chỉ có quan hệ gì với Mendès France (là Thủ tướng Pháp đã ký Hiệp định Genève) trước khi Điện Biên Phủ thất bại hay không, nếu có thì họ sẽ tung ra trước dư luận rằng vì Chính phủ Pháp giao bí mật quân sự cho Việt Minh nên quân Pháp thua ở Điện Biên Phủ. Lẽ đương nhiên, chúng tôi không khai báo gì về chuyện này. Về sau cũng yên, không có vấn đề gì nữa." Sự trợ giúp tình báo và chiến lược từ Đảng Cộng sản Pháp để dẫn đến chiến thắng của Việt Minh ở Đông Dương là một đầu đề chưa được quan tâm nghiên cứu. (Nguyễn Khắc Viện, Từ làng Gôi Vị đến kinh thành Paris,)

[11]Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, trang 539. Hai câu hỏi được chọn là:

"Tôi truất phế Bảo Đại và chấp nhận nhận Ngô Đình Diệm là Quốc trưởng, với nhiệm vụ đặt nền móng dân chủ", và "Tôi không truất phế Bảo Đại và không chấp nhận nhận Ngô Đình Diệm là Quốc trưởng, với nhiệm vụ đặt nền móng dân chủ."

[12]Minh Võ, 1999, NGÔ ĐÌNH DIỆM, Lời khen Tiếng chê. Nguồn gốc: Nguyệt san "Diễn Đàn Phụ Nữ" tháng 9 năm 1992.

 

 

Một số hình ảnh TT Ngô Đình Diệm

BBC Cập nhật: 15:49 GMT - thứ sáu, 1 tháng 11, 2013

image032

Vị Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm sinh ngày 3/1/1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha ông là quan đại thần Ngô Đình Khả và ông là một trong chín người con của gia đình họ Ngô. Người anh cả của ông, Ngô Đình Khôi, từng là Tổng đốc Quảng Nam, đã bị Việt Minh giết năm 1945.

 

image034

Ông Diệm trở thành quan tri huyện khi mới ngoài 20 tuổi và trở thành Thượng thư Bộ lại phụ trách nội các khi ngoài 30 vào năm 1933, cũng là năm ông từ chức khi các đề xuất canh tân không được Pháp chấp nhận. Phải tới năm 1954 ông mới nhận lời mời của Vua Bảo Đại về làm Thủ tướng sau khi chu du tới nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ. Ông trở thành tổng thống một năm sau đó. Trong ảnh ông cùng Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Quarles duyệt đội danh dự ở Bộ Quốc Phòng Mỹ khi ông tới thăm hồi năm 1957.

 

image036

Ông Diệm được cho là muốn xây dựng một quốc gia với đường lối dân tộc chủ nghĩa cộng với ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo và Khổng giáo. Nhưng ông cũng bị chỉ trích vì hành xử theo lối "gia đình trị" và gây ra cái chết của hàng loạt những người không cùng chí hướng với ông. Trong ảnh ông Diệm đang được Tổng thống Philippines Carlos Carcia và phu nhân tiếp tại Phủ Tổng thống ở Manila hồi năm 1958.

 

image038

Hoa Kỳ kỳ vọng nhiều vào ông Diệm và hy vọng ông sẽ xây dựng được một nhà nước phi cộng sản vốn có thể trở thành hình mẫu cho các quốc gia khác noi theo. Tuy nhiên ông Diệm không muốn Hoa Kỳ can thiệp quá xâu vào việc trị quốc. Đây được cho là lý do Washington không còn ủng hộ ông về sau. Trong ảnh ông Diệm tiếp Tổng thống Nam Hàn Syngman Rhee tại Sài Gòn.

 

image040

Các chính sách không khoan nhượng của ông Diệm ở miền nam đã khiến ông có nhiều kẻ thù. Trong ảnh ông Diệm xuất hiện tại một buổi lễ chỉ ít phút sau một lần ông bị ám sát hụt hồi cuối thập niên 1950.

 

image042

Sang đầu thập niên 1960, ông Diệm thêm một lần bị ám sát bất thành. Ngoài việc tuyên chiến với phe cộng sản qua Luật 10-59 với việc xét xử chóng vánh và xử tử nhiều người chống chế độ, ông Diệm cũng bỏ tù nhiều người phản đối chính sách của ông.

 

image044

Ngày 1/11/1963, Tướng Dương Văn Minh cùng các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa khác đã tổ chức đảo chính. Cuộc đảo chính diễn ra sau khi chiến dịch chống cộng của ông Diệm bất thành một phần do sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền nam Việt Nam. Hơn nữa căng thẳng giữa chính quyền ông Diệm và Phật giáo lên cao khiến hàng chục người bị chết, hàng trăm người bị thương trong các đụng độ giữa Phật giáo và chính quyền. Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu trốn thoát khỏi Dinh Độc lập trong ngày 1/11 nhưng bị giết trong ngày hôm sau khi ra đầu hàng.

 

image046

Những phản đối với ông Diệm không chỉ tới từ trong nước. Nhiều người Mỹ cũng biểu tình phản đối ông Diệm, người họ gọi là "bù nhìn" của Hoa Kỳ và người đã trì hoãn tổng tuyển cử. Trong ảnh những người biểu tình cũng dẫn lời của Tổng thống Hoa Kỳ Dwight Eisenhower nói "Nếu bầu cử được tổ chức vào thời điểm giao tranh hồi năm 1954 thì 80% dân số đã bỏ phiếu cho lãnh đạo cộng sản Hồ Chí Minh."

 

image048

Nhà thờ Cha Tam, nơi đây, ngày 2 tháng 11, 1963, sau thời cầu nguyện trước Thiên Chúa, hai ông Ngô Đình Diệm và bào đệ là Cố vân Ngô Đình Nhu đã thân hành bước ra khỏi nhà thờ theo “lệnh” của tướng Mai Hữu Xuân nộp mình cho Hội đồng Quân nhân Cách mạng.

Đứng trước xe thiết giáp M113, ông Nhu hỏi tướng Xuân: “Các ông đến đón Tổng Thống như thế này à?”.

Ông Xuân không trả lời và hất hàm cho các vệ sĩ đẩy hai ông Diệm Nhu vào lòng xe thiết giáp. Trong số các vệ sĩ này có cận vệ của tướng Dương Văn Minh là Đại úy Nhung. Trưởng xa của xe M113 là đại úy Vũ Quốc Gia.

Sau khi M113 chuyển bánh trực chỉ Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, đỗ trước cửa Bộ chỉ huy Cách Mạng, tướng Mai Hữu Xuân vào trình diện Tướng Dương Văn Minh nói: “Mission Accompliment!” (theo hồi ký Trung Tướng Trần Văn Đôn).

Cửa xe thiết giáp M113 mở ra, các tướng Cách mạng thấy hai thi thể Diệm Nhu đầy máu-tắt thở. (ảnh VH)

 

image050

Cái chết đẫm máu của TT Diệm và cố vấn Nhu trong lòng xe thiết giáp M113.

 

image052

“5 Tướng Cách Mang” bị giam lỏng ở một biệt thự trên Đà Lạt năm 1964 sau cuộc chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh. Từ trái: tướng Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Vỹ và Mai Hữu Xuân.

#1ad8e4
13 Tháng Hai 2015(Xem: 10592)
Vào lúc 6 giờ 30 tối thứ Ba, ngày 10 tháng Hai, 2014, Hội Đồng Thành Phố Garden Grove đã họp phiên thường lệ để giải quyết một số vấn đề xảy ra trong thành phố, trong đó có việc Hội Đồng Thành Phố (HĐTP) ký hay không ký tên trong bản lên tiếng phản đối thành phố Riverside (Nam California) kết nghĩa với thành phố Cần Thơ, và vì vấn đề này, Thị Trưởng Bảo Nguyễn đã bị đồng hương phản đối kịch liệt, hô đả đảo và bỏ phòng họp ra về.