Sàigon: GS Tương Lai:"Bán nước - Cướp nước" / Canada: KHG Dương Nguyệt Ánh đăng đàn

05 Tháng Giêng 201610:18 CH(Xem: 4899)

"BÁO VĂN HÓA-CALIFORNIA" THỨ TƯ 06 JAN 2016

THẾ SỰ DU DU

Mênh mông thế sự 25

 Tương Lai

            Năm 2015 trôi qua để lại biết bao xáo động trong thế sự và trong tâm trạng mỗi người. Tuỳ theo chỗ đứng khác nhau mà cảm nhận và suy tư về sự xáo động ấy. Mỗi cách nghĩ đều có cái lý của riêng mình và đương nhiên, phải chịu trách nhiệm bởi chính mình. Chẳng hiểu tại sao giữa cái mênh mông thế sự đó, trong tôi thoáng gợi lên niềm cảm khái về câu thơ của Đặng Dung “thế sự du du nại lão hà” [việc đời dằng dặc mà ta đã già, biết làm thế nào].

Đúng là ở tuổi 80, cách nghĩ có bớt đi sự nông nỗi nhưng “nại lão hà” thì không đến trong tôi khi tôi nghĩ để viết. Có chăng là càng bị giục giã quyết liệt hơn khi viết bởi ý tưởng  “những ai chần chừ, tin rằng tương lai sẽ là sự tiếp tục của quá khứ, sẽ sớm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi. Họ sẽ bị buộc phải suy nghĩ lại : sẽ đi đến đâu và bằng cách nào đi đến đó, khi mà có lẽ đã quá muộn để tránh được điều không thể tránh khỏi".

Dễ chừng đã hơn hai thập kỷ, ý tưởng ấy và ý tưởng của Nobert Wiener, cha đẻ của ngành điều khiển học : “chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta tận gốc rễ để rồi ta phải biến đổi chính mình mới tồn tại được trong môi trường ấy” đọng lại trong óc tôi, chi phối cách suy nghĩ của mình. Nhìn lại những gì đã xảy ra năm 2015 và những tin tức tràn ngập trên mạng trong buổi giao thoa giữa năm cũ và năm mới lại càng thấm thía những lời đúc kết có ý nghĩa cảnh báo ấy. Thế nhưng quả là không dễ gì ngay một lúc đã thấy ra đủ chiều sâu và sức nặng của một dự báo khoa học, một cách nhìn mang tầm vóc thời đại.

Thì chẳng thế sao khi nhớ lại từng có một thời, do ngập chìm trong lo toan về đánh giặc cứu nước, đã có người không đủ sức để thấy, để hiểu nên đã mỉa mai những cảnh báo khoa học về hiểm hoạ của môi trường bị tàn phá rồi sẽ còn khủng khiếp hơn cả chiến tranh. Giờ đây, khi hàng ngày hàng giờ chịu tác động trực tiếp của hiểm hoạ đó ngay trên đất nước mình, một trong những vùng bị tác động ghê gớm nhất, liệu đã là “đã quá muộn để tránh được điều không thể tránh khỏi ” mà khoa học thế giới cảnh báo chưa?

Thì ra sự thiển cận, lại là thiển cận ở cấp quốc gia thì hệ luỵ của nó khó mà lường hết được. Ảnh hưởng trực tiếp của hiểm hoạ môi trường tự nhiên có thể đo đếm được thì dễ thấy. Chẳng hạn như Hội An, một địa danh du lịch vào loại đặc biệt nhất của Việt Nam có đường bờ biển dài khoảng 7.6km, nhưng đã mất gần 200m do sạt lở trong vòng 10 năm trở lại đây. Từ tháng 10.2014, bờ biển lại tiếp tục bị lấn sâu khoảng 30m. Đợt gió mùa đông bắc cuối tháng 11năm 2015 vừa qua còn xói lở nghiêm trọng hơn với 250m chiều dài bờ biển và ăn sâu 10m vào đất liền. Nhưng đo đếm về môi trường xã hội của Hội An, một trong những nhân tố khá quyết định thu hút khách du lịch thì chắc khó hơn nhiều.

Nói điều này để lưu ý rằng, hiểu ra được cái môi trường xã hội mà chúng ta đang ngập chìm trong đó là hết sức khó. Khó vì môi trường ấy đã nhào nặn ra tập quán và thói quen cho cả một xã hội có sức trì kéo khủng khiếp đối với sự ra đời của cái mới, của tiến bộ và phát triển.

Điều này thì thế giới người ta nói lâu rồi. “Tính chuyên chế của tập quán ở mọi nơi là chướng ngại thường trực cản trở con người tiến lên phía trước, luôn không ngừng đối kháng với xu thế hướng tới cái gì đó tốt đẹp hơn thói thường, cái xu thế mà tùy theo tình hình vẫn được gọi là tinh thần tự do”. Đây là lời cảnh báo của tác giả cuốn sách “Bàn về tự do” John Stuart Mill ra đời cách nay đã 150 năm [1859]. Năm 1868 người Nhật đã dịch và phát hành 2 triệu bản, góp rất lớn vào công cuộc canh tân nước Nhật.

Ở ta thì mãi năm 2006, NXB Tri thức của Chu Hảo mới cho dịch và in 1000 bản, vừa phát hành vừa thăm dò ý kiến các “đồng chí lãnh đạo”, những người đang cai quản đầu óc của cả  nước xem có bị chệch hướng không! Chẳng trách mà thế lực giáo điều bảo thủ cho dù chỉ còn thoi thóp và đã bốc mùi lên rồi nhưng vẫn còn có đất dụng võ, xưng hùng xưng bá, múa gậy vườn hoang. Mọi cao đàm khoát luận, lâm ly thống thiết trong diễn văn diễn võ, hay mùi mẫn tỉ tê những lời thăm hỏi mị dân ẩn bên trong ngón đòn chĩa vào đối thủ… đều được trình diễn trên cái nền của sự ngu dân bằng bưng bít thông tin, bóp méo sự thật, áp đặt tư tưởng.

Sự đầu độc môi trường xã hội không dễ đo đếm như cách tính ra bao nhiêu thước đất bị sạt lở, mấy phần trăm cây số bờ biển ngập trong nước biển dâng, nhưng hệ luỵ của chúng thì khủng khiếp không kém. Cái kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội cho dù bị xáo động dữ dội song không dễ gì chuyển đổi một sớm một chiều. Sức trì kéo của “đất lề, quê thói” trói chặt với nguyên lý “nối tiếp, làm theo, không thay đổi” [kế, thuật, vô cải] của Nho gia là một thứ xiềng xích về tư tưởng, không cho nó bung ra khỏi những tập quán quen thuộc đã định hình từ bao đời. Cái “đã định hình” ấy khước từ mọi sự canh tân. Nó củng cố tính bảo thủ được khoác cho những tấm áo đủ mọi màu sắc.

Chính đấy là mảnh đất nuôi dưỡng sự trì trệ, được thăng hoa bằng chủ nghĩa giáo điều Mao ít đang ngự trị được đeo cái mặt nạ “ý thức hệ XHCN”. Thế nhưng, thật là mỉa mai mà nhắc lại cội nguồn của cái “ý thức hệ” ấy: “ngày 27 tháng 11 năm 1925, tờ New York Times, có một tin ngắn, loan báo vừa có một đảng, mang tên là “Đảng Công nhân quốc gia xã hội chủ nghĩa” ra đời tại Đức, quen gọi tắt là “Đảng Quốc xã”. Người sáng lập và lãnh đạo Đảng Quốc xã là Adolf Hitler”. Còn Vladimir Bukovsky, một nhà văn Xô Viết thì lưu ý:  “Mọi người quên rằng chế độ Đức Quốc Xã ở Đức cũng là một chế độ xã hội chủ nghĩa. Nó chính thức được gọi là Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa. Nó là một chi nhánh của chủ nghĩa xã hội. Liên Xô được gọi là xã hội chủ nghĩa quốc tế và Đức Quốc Xã được gọi là xã hội chủ nghĩa quốc gia”.

Sự thiển cận ở tầm quốc gia khi lựa chon mô hình phát triển đã đẩy dân tộc ta, đất nước ta vào sự tụt hậu đáng xấu hổ giữa các nước trong khu vực và thế giới văn minh. Đau đớn hơn nữa là sự thiển cận ấy đang ngoan cố không chịu thay đổi, đang dao động nghiêng ngả vì bị chi phối bởi quyền lực nhưng lại khoác cho mục tiêu bẩn thỉu đó cái nhãn ý thức hệ XHCN!

Người ta cố bịt mắt lại trước một thực tế phũ phàng thức tỉnh cả thế giới buộc người ta phải nhìn nhận bằng con mắt tỉnh ngộ như C.Mác từng viết chứ chẳng phải ai khác!Hệ thống XHCN đã sụp đổ tan tành như một lâu đài xây trên cát. Nó sụp đổ vì cái chân móng của nó đã rệu rã vô phương cứu chữa mà những đầu óc thức thời đã hiểu ra và nhân dân đã cảm nhận bằng sự trải nghiệm của chính họ. Mọi sự tuyên truyền bịp bợm với một bộ máy tuyên truyền còn khủng khiếp hơn của Goebbels được hỗ trợ bằng bộ máy bạo lực chẳng kém của Bormann thời Hitle. Và điều này cũng đang là một thực tế không thể lảng tránh, không thể chối bỏ ở Việt Nam trong cái thời điểm tranh tối tranh sáng này. Điều rất cần phải nói thêm là cái “ý thức hệ XHCN” mà thế lực giáo điều bảo thủ quyết kiên định bám lấy lại gắn chặt với “người đồng chí láng giềng cùng chung ý thức hệ”. Đây chính là tử huyệt của thế lực bảo thủ, giáo điều.

Trong tâm thế Việt Nam, kẻ đầu hàng, câu kết với bọn xâm lược cướp nước không có tên gọi nào khác là bọn bán nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đổi tên là Đảng Lao động Việt Nam năm 1951 tại Việt Bắc: “mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần yêu nước ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Hãy chú ý: lũ “bán nước” đặt trước “lũ cướp nước”. Đây là điểm nhạy cảm bậc nhất trong tâm lý, tình cảm của người Việt Nam ở bất cứ tầng lớp xã hội nào, sinh sống ở đâu, trong nước hay ngoài nước, tôn giáo tín ngưỡng ra sao.

Khi mà Tập Cận Bình đã hiện nguyên hình là một tên bành trướng Đại Hán hung hãn và xảo quyệt, trắng trợn tuyên bố việc xâm chiếm lãnh thổ của đất nước ta ở Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo chìm đảo nổi nằm trong vùng tranh chấp ở Biển Đông là miễn bàn vì đó là của tổ tiên hắn để lại. Thế rồi giàn khoan 981 lại ngạo ngược kéo vào như một thách thức và làm áp lực cho những kẻ yếu bóng vía trước thếm Đại hội XII, thì toan tính và hành động dại dột của những kẻdựa vào Trung Quốc để bám giữ cái ghế quyền lực sẽ chạm đúng vào điểm nhạy cảm bậc nhất ấy. Mọi mưu ma chước quỷ học được từ ông thầy, mọi thủ đoạn quay quắt được tính toán kỹ lưỡng từ xa chỉ càng lột cái mặt nạ xấu xa không sao che đậy được trước đôi mắt tinh tường của công luận.

Phải chăng khuyến cáo của Paul Krugman có lý không chỉ đối với nhà kinh doanh mà càng đúng hơn với những kẻ đang kinh doanh quyền lực: “Khi khủng hoảng trở nên trầm trọng, những cách tư duy thông thường không còn đúng nữa: cái bạn cho là tốt thực ra là tệ hại, cái mà bạn tưởng là thận trọng thực ra lại đầy rủi ro, và sự khôn ngoan lại hóa ra là dại dột”.

Vậy thì cái gì mới thật sự là “thận trọng” và “khôn ngoan”? Thuận theo ý nguyện của dân, đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển đất nước, đó chính là sự khôn ngoan nhất của những ai đang thận trọng chon chỗ đứng và hướng đi cho mình.

Bưng bít thông tin, bóp méo sự thật, bóp nghẹt tự do tư tưởng, đàn áp những người đấu tranh cho quyền làm chủ đích thực của người dân theo đúng nguyên lý từng được rao giảng “quyền hành và lực lượng đều nơi dân” để duy trì một chính sách ngu dân có bài bản không còn là bảo bối của chế độ toàn trị phản dân chủ trước những thành tựu của cuộc cách mạng thông tin và mạng internet nối mạng toàn cầu. Nếu tập quán của một xã hội tiểu nông đã định hình một lối sống là điểm tựa vững chắc của chủ nghĩa giáo điều mao ít thì internet lại đang là bệ phóng của tiến trình dân chủ hoá đang phát triển mạnh mẽ không cách gì cản được.

Theo số liệu mới được công bố bởi Tổ chức thống kê số liệu Internet quốc tế (internetworldstats), tính đến hết tháng 6/2015, Việt Nam đã có 45,5 triệu người dùng internet, đạt mức thâm nhập/dân số là 48%, xếp thứ 6 trong khu vực châu Á về số lượng người dùng, đứng thứ 17/20 quốc gia có lượng người dùng internet nhiều nhất thế giới. Đó là một sức mạnh cực kỳ lớn lao mà chế độ toàn trị phản dân chủ không sao lường hết được.

Sức mạnh ấy biết hướng đất nước đi về đâu trong thời đại của nền văn minh trí tuệ và nền kinh tê tri thức. Ai là người đi tiên phong trên con đường đưa đất nước đi vào quỹ đạo của phát triển ấy nếu không là giới trí thứcthế hệ trẻ đang sở hữu những thành tựu của công nghệ mới để nhạy bén nắm bắt thông tin. Không chỉ thông tin trong nước mà còn là thông tin trên thế giới. Họ hiểu khá rõ thời cơ chưa từng có với tiến trình hội nhập đi vào chiều sâu với những Hiệp ước được ký kết với Châu Âu, với khu vực ASEAN, với Nhật Bản, đặc biệt là với TPP, tạo ra khả năng to lớn đưa đất nước đi tới, thoát khỏi hiểm hoạ biến thành chư hầu của Tàu mà từ năm 1990 với mật ước Thành Đô đã có lời cảnh báo về “một thời kỳ bắc thuộc mới có thể đang bắt đầu”.

Chỉ những kẻ ngu ngốc không nắm bắt được thông tin về thời cuộc mới mơ hồ trước mưu toan đưa đất nước chui vào cái thòng lọng của đế chế Trung Hoa thời Tập Cận Bình. Không ai muốn là đồng loã của bọn bán nươc cầu vinh, trở thành tội đồ của lịch sử.

Bỗng nhớ lại vẻ mặt đăm chiêu và những ánh mắt đồng tình rực sáng của lớp sinh viên khoa Triết khoá 1 Đại học Tổng hợp Hà Nội cách đây 25 năm đối với ý tưởng của một nhà xã hội học Đức tôi dẫn ra trong bài giảng: “những bức tường xã hội có sẵn trước khi chúng ta ra đời nhưng cũng được chúng ta xây nên. Chúng ta bị giam cầm bởi chính sự hợp tác của chúng ta”. Đã đến lúc phải đập vỡ bức tường đó để mở đường cho cuộc sống mới, cuộc sống của đất nước, trong đó có cuộc sống của chính mình. Được sự khích lệ bởi những ánh mắt ấy, tôi bắt tay vào viết tiểu luận “Chân lý là cụ thể” trong thời điểm ấy. Quá trình viết tiểu luận này chính là quá trình tôi tự suy ngẫm về bức tường ý thức hệ do chính tôi góp phần xây dựng nên để rồi bị cầm tù trong vòng vây khủng khiếp của chính cái được xây nên đó. Đó cũng là khởi đầu một quá trình tự thanh lọc tâm hồn mình. Giữ lại những gì được nhìn nhận là những giá trị tốt đẹp mà mình trân trọng như những kỷ niệm đẹp của một thời trai trẻ giàu khát vọng và say mê đi tìm lý tưởng sống phù hợp với sự định hình nhân cách. Đồng thời mạnh dạn gạt bỏ những gì là sai lầm, là ảo tưởng, là lừa mị. Từ trong quá trình nghiền ngẫm và tự thanh lọc đó tôi kiến nghị lấy lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và trở lại với tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam.

Tôi nhận thức rất rõ là rồi sẽ phải đối diện với những thách đố gay gắt và ứng xử nghiệt ngã. Cho nên, rất ngẫu nhiên, song nghĩ lại thì cũng là logic khi tôi dẫn ra hai câu thơ trong bài “Cảm hoài” của một danh sĩ cuối triều Trần. Nói là logic vì tâm trạng bức xúc trước những bề bộn, ngổn ngang trong nhìn nhận và tự lý giải cho mình về thế sự.

Trong sự bi phẫn có chen vào cảm hứng bi hùng từ tứ thơ tuyệt đẹp của người tráng sĩ thời tao loạn ở buổi mạt kỳ vương triều Trần thế kỷ XIV chuyển sang XV trong cuộc chiến không cân sức chống quân xâm lược nhà Minh. Đẹp với hình tượng trong câu thơ mà người đời gọi là “thi trung hữu hoạ”: Thù nước chưa trả mà mái tóc đã bạc sớm, Bao phen mang gươm báu mài dưới bóng trăng. “Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma”.

Ở đây không là sự bi luỵ của người bại vong thất thế, mà là cảm hứng bi hùng của một nhân cách lớn vượt lên trên số phận, có sức dựng người ta dậy, nâng người ta lên, đẩy người ta đi tới. Hình ảnh mài gươm dưới ánh trăng có sức thăng hoa khó biểu đạt bằng lời, chỉ có thể nói là nó quá đẹp. Cái đẹp nâng lên tầm cái cao cả. Không chỉ Đặng Dung, đại văn hào Nguyễn Du cũng từng dựng lên một hình tượng bi hùng như vậy qua câu thơ “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên”. Trong niềm cảm khái đó mà tôi tự phân tích mổ xẻ về tư tưởng và nhận thức của chính mình rồi viết ra.

Để làm gì? Để công khai và minh bạch chính kiến của mình, đấu tranh chống lại những gì tôi cho là “cũ kỹ hư hỏng” để hướng tới những cái “mới mẻ tốt tươi”. Tôi viết trong tư thế ấy. Tôi không mài gươm vì cũng chẳng có gươm báu để mài. Tôi mài ngọn bút. Người ta đã “rút phép thông công” cấm cửa tôi trên báo “quốc doanh”, trong các diễn đàn chính thống, thì tôi lại có một khoảng trời rất rộng để “trông vời trời biển mênh mang”.

Thì ra “hoạ trung hữu phúc”, trong cái rủi có cái may. Vùng thoát ra khỏi vòng cương toả của một cơ chế bóp nghẹt cá tính, độc quyền tư tưởng để có thể giành lấy cho mình quyền tự quyết định hành động và cách ứng xử của riêng mình, chịu trách nhiệm lấy chính mình là một may mắn. Tự do trong suy nghĩ, nghiêm cẩn và táo bạo trong tư duy để hướng tới mục tiêu của cuộc sống mà vì nó mình dấn thân từ lúc đầu xanh cho đến lúc tóc bạc không chịu bất cứ một sự chỉ đạo nào ngoài bộ óc trong cái đầu bạc của mình là một ân huệ. Vì thế tôi hay đọc thầm trong óc câu thơ của Aragon đã nhập tâm “Những gì ta yêu phải cứu thoát ra. Tự mình ta, tự mình ta”.

Tự mình ta” không là sự cô độc hay tự cô lập mình, mà là cách khẳng định trách nhiệm cá nhân. Đã đến lúc phải rạch ròi trách nhiệm cá nhân đối với cuộc sống của đất nước, cũng là trách nhiệm cá nhân trước lịch sử, không thể dựa giẫm, ỷ lại vào bất cứ một lực lượng bên ngoài nào. Đặc biệt là khi “suối đã đục dòng, chỉ lệ còn trong” [Aragon] thì sự tường minh về thái độ là một đòi hỏi của lương tri, lương năng của người có lương tâm. Câu nói của Mạnh Tử bỗng có sức lay động vào cái buổi nhố nhăng, hệ thống giá trị đảo lộn này: “nhân chi sở bất học nhi năng giả, kỳ lương năng dã. Sở bất lự nhi tri giả, kỳ lương tri dã” [Mạnh Tử. Tận tâm thượng]. Những điều mà con người không học mà làm được thì gọi là “lương năng”, không cần suy nghĩ mà biết được thì gọi là “lương tri” vậy.

Phải chăng vào thời khắc khẩn trương quyết liệt này, đánh thức lương tri, lương năng của con người, trước hết là những đảng viên là đại biểu đi dự Đại hội, là các Uỷ viên BCHTƯ đang sắp bước vào Hội nghị TƯ thứ 14 trước những vung vãi của ngôn từ, lời lẽ, mưu toan, thủ đoạn chất chứa bao tham vọng của cuộc tranh giành quyền lực trước thềm Đại hội XII là một việc làm cần thiết?

Chao ôi, tôi những muốn chân thành nói thêm với những ai đó rằng: Giàu sang ở đời chớp nhoáng như giọt sương trong hoa. Quyền lực ở đời mong manh như bọt nước đầu ghềnh như các cụ ta xưa đã dạy. Bọt nước tan đi không còn một thoáng gợn, nhưng cái sẽ đọng lại vĩnh viễn trong lòng nhân dân là nghĩa cả đối với tổ quốc. Dám đặt tổ quốc lên trên hết, trước hết. Cái đó sẽ trường tồn với non sông đất nước.

Chính điều ấy khuấy động mối “cảm hoài” trong những thoáng gợn suy tư về thời gian mênh mông, “thế sự du du”, trời đất cũng mênh mông vô tận, “vô cùng thiên địa”. Trong cái mênh mông đó ngời sáng lên hình ảnh của người tráng sĩ với khát vọng “hữu hoài phù địa trục” dù phải xoay trục quả đất mà có thể cứu được nước thì cũng làm, những muốn “vô lộ vãn thiên hà”, kéo sông trời xuống mà rửa sạch giáp binh, đem lại hạnh phúc cho muôn dân.

 Ấy vậy mà đó là ý chí và khát vọng của người ở trong thế nước đang suy. Thế nhưng ông cha ta cũng đã dạy “chuyện thịnh suy ở đời chỉ như giọt sương trên ngọn cỏ chẳng có gì đáng sợ hãi” [Nhậm vận thịnh suy vô bố uý, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. [Quốc sư Vạn Hạnh -1018]. Có bản lĩnh đó thì mới có khí phách của người kiên trì mài gươm báu nuôi chí lớn diệt giặc cứu nước khi mà vận nước đang chao đảo trước nạn ngoại xâm còn lực lượng cứu nước thì lại đang dồn sức cho việc tranh chấp ngôi vị. Lịch sử dường như đang lặp lại, chuyện cay đắng đó cũng đang là mối nguy nhỡn tiền. Chính vì vây phải viện dẫn đến cha ông, lắng nghe “những buổi ngày xưa vọng nói về”[Nguyễn Đình Thi] những mong đánh thức lương tri, lương năng vẫn còn ẩn kín trong mỗi con người Việt Nam yêu nước nhận rõ cần phải làm gì vào lúc này.

Mạo muội nói lên điều đó để hiểu cho thật rõ chúng ta đang ở trong một thời điểm mà thách thức gắn liền với vận hội. Tỉnh táo vượt qua thách thức, có bản lĩnh đón lấy vận hội, quyết đoán và dung cảm dấn bước trên con đường phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đó chính là sự chọn lựa của chúng ta. Không một trở lực nào ngăn nổi xu thế phù hợp với quy luật vận động của lịch sử. Không thể lại đánh mất cơ hội để đất nước lại chìm đắm trong những ngày đen tối mới của thân phận chư hầu của một siêu cường hung đồ đang nhe nanh múa vuốt để khuất phục những kẻ yếu bóng vía với cái não trạng bạc nhược“nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không”. Phải làm sống lại cái khí phách “hữu hoài phù địa trục” của ông cha ta, dám kéo sông trời xuống mà rửa sạch nhục nô lệ và lạc hậu. Không chịu khuất phục trước áp lực của Trung Quốc Tập Cận Bình, đó là xu thế không gì ngăn cản nổi.

Vận nước đang giục giã mỗi người Việt Nam yêu nước quyết đẩy tới xu thế mạnh mẽ ấy để khẳng định tiến trình dân chủ hoá đất nước gắn làm một với chống chủ nghĩa bành trướng Đại Hán của Tập Cận Bình là không gì cản được. Phải chăng đây mới là niềm cảm khái của người hiểu rõ quy luật vận động của cuộc sống để cảm nhận được những gì cần đến sẽ đến khi bước vào năm 2016.

Tương Lai 3.1.2016

+++++++++++++++++++++++++++++


XEM THÊM:

image027

LỜI TÒA SOẠN:

Bài phát biểu dưới đây của bà Dương Nguyệt Ánh được một thân hữu chuyển cho báo Văn Hóa Online.

Xin cám ơn vị thân hữu có nhã ý đóng góp bài vở.

Do tòa soạn không nhận được bản gốc của bà Dương Nguyệt Ánh, vì thế bản "copy" này có thể thiếu sót nhiều chữ, nhiều đoạn; nếu bà Dương Nguyệt Ánh đọc được bài này trên báo Văn Hóa có nhiều thiếu sót, xin vui lòng thông tin gởi về cho tòa soạn hoan hỉ đính chính.

Xin trân trọng cám ơn bà.

 (VH)

 

Bài phát biểu của bà Dương Nguyệt Ánh
  

Ánh xin trân trọng kính chào tất cả quý vị;

Trước hết, Ánh xin chân thành cảm tạ ông Lê Văn Trang, BS Chủ Tịch Đào Bá Ngọc và Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng Montreal đã có nhã ý mời Ánh đến đây để gặp gỡ và thưa chuyện với quý vị. Và quan trọng hơn hết, Ánh xin cảm ơn sự hiện diện của tất cả quý vị hôm nay, nhất là những quý vị ở xa đã phải lái xe nhiều giờ để đến đây. Chưa sang đến Montreal mà từ mấy tuần trước Ánh đã nhận được nhiều điện thư chào đón ân cần, Ánh xin nhân dịp nầy trân trọng ghi nhận và tri ân những thịnh tình này, và biết là Ánh sẽ còn phải cố gắng thật nhiều nữa thì mới xứng đáng.

Kính thưa quý vị,

Đây là lần đầu tiên mà Ánh tham dự lễ Giỗ Tổ và Quốc Hận được tổ chức chung vào cùng một ngày, và cái buồn lần này cũng vì thế mà thấm thía hơn so với mọi năm. Vì Ngày Giỗ Tổ là để nhớ ơn dựng nước và mở mang bờ cõi của tiền nhân, mà ngày nay nước thì đang mất dần vào tay Trung Cộng, tài nguyên VN thì đang bị cho không hay sang nhượng với giá rẻ mạt. Thế hệ hậu sinh như chúng ta thì ngậm ngùi với lễ Quốc Hận, còn những đứa con bất hiếu như Đảng CSVN thì đang mặc sức phung phí và làm băng hoại hết gia tài của mẹ VN.

Bốn mươi năm trước, khi ngồi trên chiếc phi cơ trực thăng bay ra biển Đông trong buổi sáng cuối cùng, dù chưa đủ lớn để hiểu thấu hết cái tai họa to lớn sắp đổ xuống đầu người dân miền Nam nói riêng và cả tổ quốc VN nói chung, nhưng Ánh cũng đã đủ lớn để biết lần ra đi này sẽ là vĩnh biệt.

 

Vĩnh biệt 15 năm tuổi thơ tự do và bình yên của Ánh trong vòng tay bao bọc của chiến sĩ VNCH, và vĩnh biệt VNCH. Cái cảm giác đau đớn nhất lần đầu tiên trong đời là khi đứng nhìn tầu Hải Quân của mình hạ lá cờ của VNCH xuống và thay thế bằng cờ Hoa Kỳ để được phép cặp bến Phi Luật Tân, rồi khóc vì biết mình từ đây là một người vô tổ quốc, rồi lo sợ cho những người còn ở lại, những người đang cố thoát mà không thoát được, thương nhất là những chiến sĩ của mình còn đang cố chiến đấu đến viên đạn sau cùng và thương binhcủa mình đang còn trong các Quân Y Viện. Ánh tự hỏi số phận của họ rồi ra sao, ai lo cho họ, và cho vợ con họ.

Bây giờ thì tất cả chúng ta đều biết chuyện gì đã xảy ra cho những người ở lại. Quân dân miền Nam đã phải chịu đựng một cuộc trả thù tàn bạo nhất, man rợ nhất trong lịch sử dân tộc bởi chính những người đồng chủng, những người từng rêu rao với cả thế giới là họ chiến đấu để giải phóng cho miền Nam.

Còn nhớ những ngày sau 30/4/75 Đảng đã tuyên bố là "Chỉ Có Đế Quốc Mỹ là kẻ chiến bại. Toàn thể nhân dân VN, kể cả những viên chức, binh sĩ miền Nam, đều là những người chiến thắng...", và "nhân dân miền Bắc chúng tôi, và đồng bào ruột thịt miền Nam sẽ cùng nhau xây dựng một đất nước Việt Nam hùng mạnh…" Đã có nhiều người tưởng rằng Đảng muốn thật tâm "Hòa Hợp Hòa Giải" mà không hiểu rằng đấy chỉ là thủ đoạn của Đảng để lừa cho các nạn nhân ngoan ngoãn hợp tác và không kháng cự nữa. Sau đó trong số “những đồng bào ruột thịt miền Nam” đã có cả trăm ngàn người bị xử tử ngay lập tức. Mấy triệu người đi tù và trong số đó hơn trăm ngàn người đã chết trong những nhà tù khổ sai được mệnh danh là trại cải tạo. Lớp không phải đi tù thì bị bóc lột vơ vét đến tận cùng xương tuỷ qua hàng loạt chiến dịch đổi tiền và những trò gian manh khác của chính quyền để cướp tài sản của dân, rồi nhà tan cửa nát, gia đình ly tán, rồi bị đầy đi cái gọi là vùng kinh tế mới, cũng là nơi vùi thây của hàng trăm ngàn người dân vô tội khác.

Còn quân dân miền Bắc thì sao? Ban đầu họ ngỡ ngàng trước sự trù phú của miền Nam, trước những dấu vết rất hiển nhiên của một nền tự do dân chủ dù chỉ mới được xây dựng trong 20 năm.Một thí dụ là cái tài sản đáng kể về văn chương, thi ca, âm nhạc, nghệ thuật của miền Nam. Từ ngỡ ngàng họ đi đến tức giận vì nhận ra mình bị lừa, vì đã tin lời Đảng hy sinh xương máu để giải phóng một miền Nam không cần và không muốn giải phóng chút nào. Tệ hại hơn nữa là khi họ hiểu ra rằng họ đã hy sinh xương máu để ăn cướp miền Nam cho Đảng thì đúng hơn. Và sau khi ăn cướp được rồi, Đảng chia nhau hết và trở thành giai cấp tư bản Đỏ để phung phí tài nguyên quốc gia và hưởng thụ. Còn những con người ngày trước còng lưng hy sinh cho Đảng đi ăn cướp thì nghèo vẫn hoàn nghèo, khổ vẫn hoàn khổ, rồi vẫn chung số phận Dân Oan bị cướp đất cướp ruộng y như dân miền Nam. Bẽ bàng nhất là những kẻ phản bội VNCH, đã từng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản hoặc hăng hái đi theo cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ tưởng rằng sẽ được Đảng đền ơn trọng hậu, nhưng không ngờ bị Đảng trở mặt phản bội, quyền không được chia mà lợi cũng hụt. Những tấm bằng ban khen, tuyên dương liệt sĩ gì gì chỉ là mớ giấy lộn. Khi họ sáng mắt ra thì đã muộn.

Trong khi các quốc gia Á Châu khác như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Mã Lai, v.v…, dồn mọi nỗ lực xây dựng đất nước, đã đưa đất nước họ lên hàng phú cường chỉ vỏn vẹn trong vài thập niên, thì ngay sau khi chiếm được miền Nam đảng CS đã đưa toàn cõi VN đi thụt lùi lại cả hằng 50 năm.

 

Còn nhớ sau 30/4/75 những tiện nghi cuả một xã hội tân tiến ở miền Nam như TV, tủ lạnh, điện thoại v.v... biến mất hết. VN là một nước nông nghiệp mà cả nước phải ăn bo bo, khoai sắn độn cơm. Rồi đảng CSVN lại tiếp tục làm tay sai cho CS Liên Xô gây ra thêm hai cuộc chiến tranh với Campuchia và Trung Cộng, phung phí thêm mấy trăm ngàn sinh mạng thanh niên Việt, tiêu diệt thêm tiềm năng dân tộc. Cũng vì cái chế độ độc ác, man rợ đó mà cả triệu người bỏ nước ra đi bằng cách vượt biên, vượt biển. Theo thống kê cuả Liên Hiệp Quốc thì có khoảng 900,000 thuyền nhân VN đã đến được bến bờ tự do và họ ước tính rằng cứ mỗi một người thoát được thì có 2 người khác đã bỏ mình trên đường tìm tự do, tức là đã có khoảng gần 2 triệu người thiệt mạng.

Đói nghèo và thất học thường dẫn đến suy đồi đạo đức, khi con người tìm mọi cách để thoát ra cái đói nghèo và sẵn sàng trả bằng những giá đắt nhất, nhất là khi cái giàu sang xa xỉ và vô đạo đức của giai cấp lãnh đạo diễn ra nhan nhản trước mặt. Và cái thành phần phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất bao giờ cũng là thành phần ở vào thế yếu nhất, đó là phụ nữ và trẻ em. Trong lịch sử hơn 4000 năm văn hiến của chúng ta, chưa bao giờ có sự kiện hàng lớp phụ nữ và trẻ em VN bị bán ra nước ngoài để làm nô lệ tình dục, hoặc những cảnh nhục nhã ê chề cuả các thiếu nữ VN khoả thân sắp hàng để cho ngoại kiều lựa như lựa một món hàng. Đó là chuyện của những người dân VN nghèo khổ. Chuyện của giai cấp lãnh đạo giàu có thì sao? Đạo đức của họ còn suy đồi tệ hại hơn. Không có gì xấu hổ, nhục nhã bằng những tấm bảng viết bằng tiếng VN để cảnh cáo không được ăn cắp ở những nước Á Châu có nhiều khách du lịch từ VN. Nếu đã đủ tiền để đi du lịch thì chắc chắn là không đến nỗi đói nghèo mà phải làm liều.

Vì sao mà ra nông nỗi này? VN chúng ta đã bao lần bị ngoại bang đô hộ và bóc lột, cả ngàn năm Bắc thuộc tăm tối, cả 80 năm đọa đày dưới tay thực dân Pháp, cả triệu người chết đói vì phát xít Nhật, mà giấy rách vẫn giữ được lề, không bao giờ đi đến sự nhục nhã tột cùng như bây giờ. VN ngày nay là một quốc gia có chủ quyền, với đảng cầm quyền là người VN, mà tại sao VN lại thụt lùi thảm hại về cả vật chất lẫn tinh thần như thế, tại sao phụ nữ VN và trẻ em VN lại bị đẩy vào bước đường cùng như thế, tại sao tình trạng VN lại tồi tệ hơn cả khi bị ngoại bang đô hộ và một trời một vực so với thời VN từng được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông?

Câu trả lời là vì trong suốt 40 năm qua chính quyền CS không hề có một nỗ lực nào để xây dựng đất nước, không hề có một quan tâm nào đến phúc lợi của người dân nên mới ra nông nỗi này. Họ có thật sự là người VN không mà sao hành xử y như thực dân ngoại bang, chỉ lo vơ vét thật nhiều và thật nhanh mọi tài nguyên quốc gia, bất chấp những mối đại họa đường dài như tàn phá môi sinh, đốn rừng, chặt gỗ quý, tàn phá di tích lịch sử, v.v... Không chăm lo cho dân thì chớ, họ tán tận lương tâm đến nỗi công nhân VN xuất cảnh lao động bị chủ ngoại quốc đánh đập chạy đến cầu cứu mà tòa đại sứ làm ngơ không can thiệp, ngư dân VN bi tầu Trung Cộng hà hiếp ngay trong hải phận VN mà họ không phản ứng.

Và cái tội tầy đình nhất của Đảng CSVN ngày nay là vì tham vì hèn mà dâng đất dâng biển cho Trung Cộng để dựa vào Trung Cộng mà củng cố quyền lực. Ít nhất 720 cây số vuông biên giới VN, kể cả Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc và 10,000 cây số vuông biển VN gồm cả quyền khai thác hải sản đã nằm gọn trong tay Trung Cộng mà chúng không hề phải tốn một viên đạn. Chưa kể đến việc cho Trung Cộng khai thác Bauxite ở Tây Nguyên và cho Trung Cộng thuê 300,000 mẫu rừng ở 6 tỉnh miền Bắc 50 năm. Trung Cộng tha hồ di dân và đem quân đội của chúng vào những vùng này đóng chốt sẵn. Sau này nếu có xẩy ra chiến tranh Trung-Việt thì địch đã ở sẵn ngay trong lòng ta rồi, lại càng khó mà đánh bật được chúng.

Bán nước, phá hoại tài nguyên quốc gia, dập tắt tinh thần ái quốc và niềm tự hào dân tộc, bóc lột, đàn áp, khủng bố dân. Một chính quyền thực dân đỏ, một đảng lãnh đạo bất nhân bất nghĩa như thế là đại hoạ cho tổ quốc Việt Nam thì người Việt quốc gia hải ngoại không thể nào hợp tác hay hòa hợp hòa giải gì với họ được. Nhân đây, xin một lần nữa nhắc nhở những ai đã, đang hoặc có ý định hợp tác với chính quyền CS, về cái bản chất phản bội, dối trá và lừa lọc của Đảng CSVN. Cả miền Bắc đã bị lừa, đã không thiếu gì những bài viết chửi Đảng của những cựu đảng viên hay cựu cán bộ vì uất ức. Cả miền Nam đã bị lừa khi Đảng giả vờ hòa hợp hòa giải chỉ để dễ bề thẳng tay tàn sát trả thù và dễ dàng lùa cả triệu quân cán chính miền Nam vào nhà tù mà ai cũng tưởng chỉ là đi học tập vài ngày rồi về. Cả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã bị lừa.

 

Đây là những kẻ nai lưng hy sinh xương máu cho Đảng rồi bị Đảng trở mặt phản bội sau khi xong việc. Vậy thì huống gì là người Việt hải ngoại, thành phần đã từng bị Đảng nhục mạ vu khống là một lũ ma cô đĩ điếm tội phạm nên mới bỏ nước ra đi. Ngày nay Đảng đổi giọng quỷ quyệt gọi chúng ta là những khúc ruột ngàn dặm vì muốn biến chúng ta thành những con bò ngây thơ để cho Đảng vắt sữa. Đảng hô hào hòa hợp hòa giải để chúng ta tự nguyện làm tay sai không công giúp Đảng thi hành nghị quyết 36. Đảng dựng lên những lãnh tụ đối lập ma để sau nầy diễn kịch "VN có đa đảng" hầu che mắt thế giới, để mượn tay những kẻ nhẹ dạ thi hành âm mưu của đảng. Sau khi Đảng xong việc, đạt được mục đích, thì cái bản chất phản bội lừa lọc mới lộ ra và quý vị đó cũng sẽ là những cái vỏ chanh tội nghiệp mà Đảng sẽ không ngần ngại vứt bỏ sau khi vắt hết nước.

Vừa rồi chúng ta đã ôn lại câu chuyện tang thương của những người ở lại và quê hương bỏ lại. Còn chuyện của những người ra đi?

Trước hết, xin thành kính đốt nén hương lòng cho những người đã bỏ mình trên đường tìm tự do, những người đã chọn thà chết còn hơn sống mà như chết. Còn chúng ta, từ những người tị nạn thất thểu không nhà và vô tổ quốc năm xưa chúng ta đã trở thành công dân đầy tự tin của những quốc gia tự do dân chủ bậc nhất trên thế giới. Chúng ta đã nhanh chóng khắc phục được những khó khăn kinh tế ban đầu và dựng lên những cộng đồng vững mạnh, những khu thương mại trù phú, các công ty lớn nhỏ đầy dẫy, do người Việt làm chủ. Chúng ta thành công trong mọi ngành, từ quân sự đến khoa học kỹ thuật, văn chương nghệ thuật, từ Luật Nha Y Dược đến Thẩm Mỹ, Thời trang. Con em chúng ta đang sắp hạng đầu ở mọi cấp lớp, từ mẫu giáo đến đại học. Trong lúc người VN trong nước đi ra ngoại quốc thì tủi hổ vì bị cảnh cáo không được ăn cắp, thì chúng ta, những người Gia Nã Đại gốc Việt, người Úc gốc Việt, người Mỹ gốc Việt, v.v... đi đến đâu cũng được khen phục vì những thành quả và đóng góp không nhỏ cho quê hương mới.

 

Sự kiện này chúng minh hùng hồn rằng nếu những người Việt trong nước có điều kiện và cơ hội như người Việt hải ngoại thì họ cũng sẽ xây dựng được một đời sống no ấm và một quốc gia phú cường. Do đó, chính Đảng CS và bè lũ thực dân Đỏ đang cai trị VN là cái lý do ngăn chặn điều kiện phát triển đất nước và hạnh phúc cho dân tộc VN.

Suốt 40 năm qua người Việt hải ngoại không chỉ lo làm lại cuộc đời trên quê hương mới. Song song với việc đó chúng ta vẫn nêu cao chính nghĩa quốc gia, vẫn tranh đấu không ngừng nghỉ cho 80 triệu đồng bào trong nước, đồng thời gắt gao lên án những tội tày trời của CSVN đối với quốc gia dân tộc. Ánh xin được liệt kê một vài thí dụ.

Chẳng hạn như cuối thập niên 70, đa số người tị nạn còn đang chân ướt chân ráo cố hội nhập vào đời sống mới, người thì làm 2, 3 jobs một lúc để dành dụm gửi tiền về VN, người thì học ngày học đêm để bắt kịp bạn đồng lớp, nhưng chúng ta vẫn bỏ giờ làm giờ học để di biểu tình tranh đấu cho thuyền nhân VN không bị đẩy trở ra biển, tổ cáo hải tặc đang giết người cướp của trên biển Đông, và kêu cứu với Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Ánh nhớ hồi đó bố mẹ Ánh rất khó, muốn xin đi đâu không phải dễ. Vậy mà Ánh xin đi tuyệt thực trước tòa Đại Sứ Mã Lai hay vắng nhà cả đêm 30 tháng 4 để làm Đêm Không Ngủ Tưởng Nhớ Quê Hương thì hai cụ cho con gái đi ngay mà không hề thắc mắc.

Một thí dụ nữa là việc tranh đấu cho những cựu tù cộng sản được đến Hoa Kỳ trong chiến dịch nhân đạo mà bên Mỹ vẫn gọi tắt là HO. Người có sáng kiến và có công đầu là bà Khúc Minh Thơ. Nếu không có chiến dịch HO thì con số những người tù chết trong vòng vài năm sau khi được thả sẽ còn cao hơn nữa, vì ở trong tù bị hành hạ đánh đập, bị bắt làm việc khổ sai và đói ăn triền miên thì thể lực hao mòn, nhiều khi lê về được với gia đình nhưng trong người mang cả trăm thứ bệnh.

Một thí dụ nữa là chuyện treo cờ vàng. 40 năm trước đã có nhiều hội đoàn không treo và chào cờ vàng trong các buổi sinh hoạt của người Việt ở hải ngoại, vì họ chủ trương phi chính trị. Chúng ta đã phải mất rất nhiều tâm huyết mới thuyết phục được họ treo và chào cờ vàng. Rồi so với hôm nay không những mình đã thuyết phục được mình mà còn thuyết phục được người. Ánh muốn nói đến sự kiện những thành phố và Tiểu Bang Hoa Kỳ có đông người Việt cư ngụ đã lần lượt công nhận cờ vàng là biểu tượng của người Mỹ gốc Việt. Nhờ vậy lá cờ thân yêu của chúng ta đang được tung bay hiên ngang ở khắp hải ngoại mà tòa các tòa Đại Sứ CS không làm gì được. Quả là cộng đồng người Việt quốc gia chúng ta đã tiến được một bước rất dài. Và một trong những người có công đầu trong cuộc vận động kiên quyết này là chị Lữ Anh Thư, một người bạn thân và đồng chí của Ánh. Một lát nữa, chị Anh Thư sẽ giúp bổ túc thêm về những thành quả của người trẻ hải ngoại trong 40 năm qua.

Một thành quả quan trọng khác là công tác trả ơn chiến sĩ. Không đâu là không có những nỗ lực gây quỹ giúp thương phế binh và cô nhi quả phụ của tử sĩ VNCH. Cộng đồng nhỏ thì làm nhỏ, cộng đồng lớn thì làm lớn. Ở những nơi đông người Việt sinh sống như California bên Mỹ thì hàng năm vẫn có đại nhạc hội Cám Ơn Anh quy tụ hàng trăm nghệ sĩ trình diễn ngoài trời suốt từ trưa đến tối bán được cả trên 10 ngàn vé và số tiền đóng góp bao giờ cũng lên trên nửa triệu đô la.

Nãy giờ chúng ta đã ôn lại hai câu chuyện, câu chuyện tang thương của những người ở lại và câu chuyện đầy tự hào của những người ra đi. Trong bối cảnh này, câu hỏi lớn nhất là người Việt hải ngoại cần phải làm gì cho tương lai dân tộc. Mà tương lai của một dân tộc thì luôn luôn nằm trong tay những người trẻ. Vậy câu hỏi chính xác hơn là chúng ta cần làm gì để khuyến khích tuổi trẻ hải ngoại tiếp tay với những người trẻ trong nước bảo vệ quê hương và tiếp tục tranh đấu cho tự do nhân quyền.

 

Thật vậy, ngoài việc giúp con em chuẩn bị cho tương lai cá nhân, phụ huynh chúng ta còn cần giúp đào tạo một thế hệ mới cho tương lai dân tộc Việt Nam.

Việc làm này có viển vông không, khi mà VN đang sắp sửa mất nước vào tay Trung Cộng đến nơi rồi. Thưa câu trả lời là không viển vông. Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, VN đã từng bị Tàu đô hộ cả ngàn năm mà hàng mấy mươi thế hệ người VN từ đời này sang đời khác vẫn nuôi dưỡng được lòng ái quốc bền bỉ và ý chí quật cường đề cuối cùng dành lại độc lập. Đó là vì cha ông ta đã nỗ lực gìn giữ cái tinh thần dân tộc cho con cháu. Nhờ đó, ta luôn ý thức được mình là người Việt và tự hào mình là người Việt, dù nền văn minh của ta có bị kẻ thống trị cướp nhận là của họ, dù lịch sử của ta có bị bôi xoá hay xuyên tạc, và văn hoá của ta bị pha loãng đi để tiêu diệt niềm tự hào dân tộc của ta và đồng hoá ta thành người Tàu. Soi tấm gương này của cha ông, ngày nào chúng ta còn nỗ lực hun đúc tinh thần dân tộc cho con cháu thì nhất định ta không sợ mất nước, và dẫu có mất thì cũng sẽ dành lại được khi thời cơ thuận tiện.

Nếu câu hỏi là đối với tuổi trẻ VN ở hải ngoại, nỗ lực hun đúc tinh thần dân tộc này có thực tế không khi con em chúng ta sinh ra và lớn lên ở đây, thì xin thưa câu trả lời là khó nhưng không phải không làm được. Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta đã phải hàng hàng lớp lớp bỏ quê hương ra đi vì không chấp nhận cộng sản. Nhưng chúng ta không phải là dân tộc duy nhất đang trải rộng trong thế giới tự do. Hãy lấy một thí dụ là người Do Thái. Họ đã tha phương đi khắp nơi mà vẫn không mất hồn Do Thái, và cuối cùng đã làm được cái chuyện không tưởng là vận động cả thế giới cho họ lập quốc. Ngày nay, họ đang lợi dụng vị thế chính trị và kinh tế của họ ở những nước bên ngoài để hỗ trợ đắc lực cho người dân bên trong nước Do Thái được tự do và trường tồn. Nếu người Do Thái làm được thì sao ta không làm được. Nếu thế hệ con em chúng ta trở thành những nhà chính trị kinh tế thương gia chuyên viên lỗi lạc, nắm những cơ phận then chốt trong guồng máy các quốc gia lớn trên thế giới, nhưng luôn giữ được tinh thần VN thì dù sinh ra và lớn lên ở bất cứ đâu, họ vẫn sẽ có những quan tâm tự nhiên cho đất nước và dân tộc VN.

Nhân dịp này Ánh cũng xin bày tỏ mối lo ngại rất lớn không phải của riêng Ánh mà của tất cả chúng ta trước sự phá sản tinh thần VN đang diễn ra trong nước. Chúng ta là một dân tộc với cả một lịch sử kiêu hùng và một nền văn minh phong phú, từ trống đồng cho đến phong tục thờ cúng tổ tiên và những sinh hoạt tự trị nơi làng xã ngay cả dưới thời phong kiến. Ngày nay vì muốn lấy lòng Trung Cộng, nhà nước CS đang lặng lẽ bôi xóa đi những trang sử chống Bắc xâm lẫm liệt của ta. Mới năm ngoái, chúng ra chỉ thị bãi bỏ những ngày kỷ niệm quan trọng như kỷ niệm Trưng Vương ở cấp quốc gia mà chỉ cho làm ở địa phương nơi có đền thờ hai bà thôi. Nguy hiểm hơn là luận điệu văn hóa của ta là toàn vay mượn từ Trung Hoa, và tinh thần vọng ngoại, ưa chuộng tất cả những gì của người và chê bai của mình. Chúng ta chắc chắn sẽ mất nước khi chúng ta tự đánh mất đi hồn nước. Còn đất còn biển mà mất văn hóa, mất lịch sử, mất đi từ hào dân tộc, rồi thay vào là tinh thần nô lệ, Hán hoá thì có khác gì đã mất nước rồi. Nếu ta không giữ được quê hương ở trong chúng ta thì làm sao giữ được quê hương bên ngoài?

Trong tình huống này, nhu cầu giáo dục tuổi trẻ VN để huy động niềm tự hào dân tộc trở thành cấp thiết. Bước đầu tiên là dậy cho con em một hiểu biết tường tận và chính xác về lịch sử VN, và những anh hùng, anh thư của dân tộc. Điều khó khăn là phụ huynh chúng ta không có tài liệu sẵn sàng cho mục đích này. Hơn nữa, nếu muốn nhắm vào giới trẻ hải ngoại, chúng ta cần phải soạn thảo những tài liệu này bằng anh ngữ, pháp ngữ v.v... Muốn gây được phong trào học sử trong giới trẻ, chúng ta cần có những bài viết ngắn, gọn để tóm lược những mốc lịch sử quan trọngP đồng thời xoáy vào những giai đoạn lịch sử oai hùng nhất và đề cập thật nhiều đến những người trẻ hào hùng VN qua bao thời đại. Khi nói về họ, ta cần nhấn mạnh đến tuổi tác và thân thế của họ, thí dụ như Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản mới 16 tuổi đã tự điều khiển một đạo quân chống giặc Mông Cổ và lập bao chiến công lừng lẫy, Lý Đông A mới 15 tuổi đã theo nhà cách mạng Phan Bội Châu và 22 tuổi đã thành lập và làm tổng thư ký Đại Việt Duy Dân Cách Mệnh Đảng để đấu tranh chống Pháp. Trương Tử Anh thành lập Đại Việt Quốc Dân Đảng lúc chỉ mới 25 tuổi. Nguyễn Thái Học thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng ở tuổi 25.

Song song với việc dạy sử, chúng ta cần trang bị cho con em những hiểu biết căn bản về văn hóa của người VN, nhất là những văn hóa cổ, đặc thù của ta. Mình phải biết rõ cái gì của mình, nhất là những cái hay, cái đẹp của mình trước khi để ý học hỏi và so sánh với những cái hay cái đẹp của người. Có như vậy mình sẽ có những chọn lựa khôn ngoan để cầu tiến nhưng vẫn giữ được bản sắc và niềm tự hào dân tộc. Có như vậy thì không sợ Hán hoá, sợ mất đi hồn VN. Có như vậy thì mới giữ vững được cái VN bên trong chúng ta để bảo vệ cái VN bên ngoài.

Thế hệ tị nạn và di dân đầu tiên bao giờ cũng phải lo chuyện cơm áo và ổn định đời sống. Nay chúng ta đã xong bước đầu và đã thiết lập được những cộng đồng Việt trù phú ở nhiều quốc gia tân tiến. Con em chúng ta đang sắp hạng đầu ở học đường và đang thăng tiến rất nhanh trong nghề nghiệp. Đây là lúc chúng ta cần thực hiện bước kế tiếp là đẩy mạnh tuổi trẻ VN vào tiến trình khôi phục và phát huy tinh thần dân tộc. Nói một cách khác là sau khi phải bỏ quê hương ra đi nay ta đã hoàn hồn, bây giờ thì ta cần lo đến bước kế tiếp là giữ hồn, nhất là trước tình huống VN hiện nay. Ánh xin trân trọng kêu gọi sự chung sức của những vị học giả, sử gia trong và ngoài nước cho vấn để cấp thiết nầy. Chúng ta có rất nhiều hội đoàn đa số cho mục đích ái hữu, tương tế, và từ thiện. Đây là lúc chúng ta cần cho mọc lên như nấm những hội nghiên cứu về sử, về nguồn gốc, văn hóa, và phong tục VN.

Những lời nói sau cùng xin được dành cho những người trẻ VN và xin mượn tựa đề của một tác phẩm của cố văn sĩ Duyên Anh có tên là “Mơ Thành Người Quang Trung”, một trong những anh hùng chống Bắc xâm vĩ đại nhất của lịch sử VN.

Vâng, tất cả chúng ta xin hãy mơ thành người Quang Trung, và xin hãy là người Quang Trung.

Dương Nguyệt Ánh - 5/2015

23 Tháng Chín 2018(Xem: 227)