COC: ASEAN-TQ đang “rà soát vòng hai dự thảo về Biển Đông”; Ts Trần Công Trục: COC là gì?

05 Tháng Mười Hai 20222:52 CH(Xem: 339)

VĂN HÓA ONLINE – HOÀNG SA-TRƯỜNG SA – THỨ HAI DEC 05, 2022

Ý kiến/Bài vở vui lòng gởi về:  lykientrucvh@gmail.com


image007Tàu cá Trung cộng tràn ngập Biển Đông. Ảnh tài liệu minh họa.


COC: ASEAN-TQ đang “rà soát vòng hai dự thảo về Biển Đông”; Ts Trần Công Trục: COC là gì?


17/11/2022


image008Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam - Lê Thị Thu Hằng.


Việt Nam hôm 17/11/2022 cho biết ASEAN và Trung Quốc đã có những tiến triển trong việc đàm phán về dự thảo Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).


“ASEAN và Trung Quốc cũng đã hoàn thành vòng rà soát thứ nhất và đang tiến hành vòng rà soát thứ hai văn bản đàm phán đơn nhất dự thảo Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), thể hiện mong muốn của hai bên sớm đạt được một COC hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982,  đóng góp vào việc duy trì hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực, tạo môi trường thuận lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lê Thị Thu Hằng, cho biết tại cuộc họp báo chiều 17/11, khi được yêu cầu đưa ra bình luận của Việt Nam về việc ASEAN và Trung Quốc vừa thông qua Tuyên bố kỷ niệm 20 năm Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).


Bà Hằng cho biết thêm rằng các lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc cũng đã trao đổi nhiều biện pháp để thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc lần thứ 25 và Kỷ niệm 20 năm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nơi cả hai bên tái khẳng định công nhận lợi ích của việc giữ cho Biển Đông là vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác.


Tại hội nghị này, Tổng thống Philippines, Ferdinand Marcos Jr được cho biết đã thúc đẩy việc sớm hoàn tất COC ở Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế. Ông Marcos cho rằng điều quan trọng là UNCLOS tiếp tục được duy trì như một khuôn khổ chung trong các hoạt động đại dương và biển.


Trong khi đó, phía Trung Quốc, trong bài phát biểu khai mạc, Thủ tướng Lý Khắc Cường nói rằng Trung Quốc “tôn trọng luật pháp quốc tế khi giải quyết các vấn đề liên quan đến Biển Đông”.


Lãnh đạo Trung Quốc nói thêm rằng trong quá trình tham vấn về COC, “chúng tôi tính đến lợi ích của tất cả các bên. Chúng tôi tôn trọng luật pháp quốc tế bao gồm cả UNCLOS, chúng tôi ủng hộ các nỗ lực giải quyết các vấn đề liên quan đến Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS và cả DOC”. (theoVOA)


+++++++++++++++++++++++++++++++


XEM THÊM:


COC: Singapore 03/8/2018,  Dự thảo duy nhất Bộ Quy tắc ứng xử duy nhất ở Biển Đông


Đừng biến COC thành bác sỹ phẫu thuật có khả năng ghép nối lưỡi bò


Tiến sỹ Trần Công Trục


08/08/2-2018


(GDVN) - Các nhà đàm phán có lương tâm và trách nhiệm sẽ không chấp nhận nhóm ý kiến thứ nhất, muốn phạm vi áp dụng COC là toàn bộ Biển Đông.


Ngày 3/8/2018, tại Singapore, Ngoại trưởng của 10 quốc gia thành viên ASEAN cùng người đồng cấp Trung Quốc đã thống nhất về một “Văn bản Đàm phán Dự thảo duy nhất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông”.


Sự kiện này lập tức nhận được sự quan tâm của hầu hết các phương tiện truyền thông khu vực và quốc tế.


Đã có nhiều bài phân tích bình luận liên quan đến nội dung của Văn bản đàm phán về Dự thảo duy nhất Bộ Quy tắc ứng xử duy nhất ở Biển Đông.


Trong số đó, chúng tôi đánh giá cao tính khách quan, xây dựng của một chuyên gia người Úc, Giáo sư Carl Thayer, trong một bài viết đăng trên The Diplomat, ngày 04/8/2018, dưới tiêu đề: “Một cái nhìn kỹ hơn Dự thảo duy nhất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông của ASEAN-Trung Quốc”.


Bài báo cho biết: “Văn bản này dài 19 trang khổ A4. Nó được cấu trúc gồm 3 phần chính theo Thỏa thuận khung Bộ Quy tắc ứng xử đã được thông qua trước đây: những điều khoản mở đầu, những điều khoản chung và những điều khoản cuối cùng.


image011Các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ASEAN và Trung Quốc tại Singapore. Ảnh: VCG.


Để góp phần thông tin và làm rõ thêm những nội dung chủ yếu, cũng như những đề xuất của các bên trực tiếp thông qua văn bản này, chúng tôi xin được đề cập đến một số nội dung có thể là chủ đề thảo luận căng thẳng trong các cuộc thương lượng về COC sắp tới:


1. Về phạm vi điều chỉnh của COC


Có thể nói đây là nội dung cốt lõi của COC. Nếu không xác định phạm vi điều chỉnh thì COC sẽ không bao giờ được thông qua, hoặc nếu vì một lý do nào đó, COC vẫn được thông qua mà không có nội dung này thì nó chẳng có ý nghĩa và giá trị pháp lý gì, thậm chí càng làm cho tình trạng tranh chấp trên Biển Đông phức tạp thêm.


Thiết nghĩ, trong trường hợp như vậy, thì COC chỉ là công cụ để phía Trung Quốc lợi dụng nhằm thực hiện chiến lược độc chiếm Biển Đông, và trước mắt là để ứng phó trong cuộc cạnh tranh địa - chính trị đang diễn ra hết sức khốc liệt ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.


Tuy vậy, nội dung xác định phạm vi địa lý trong Biển Đông, một nội dung không thể thiếu được đối với một văn bản quy phạm pháp luật, thường được gọi là “phạm vi áp dụng”, lại không được nêu trong văn bản này. Vì vậy, các bên tham gia đã phải bổ sung ý kiến của mình, chẳng hạn:


- Việt Nam đề xuất rằng, “Bộ quy tắc ứng xử hiện tại sẽ áp dụng cho tất cả các thực thể đang trong tranh chấp và những vùng biển chồng lấn do những yêu sách theo UNCLOS 1982 ở Biển Đông”.


- Indonesia thì thêm vào: “Các bên cam kết tôn trọng vùng Đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven biển theo quy định trong UNCLOS 1982”.


- Malaysia đề xuất: “Tùy thuộc vào các yếu tố/nội dung của COC, phạm vi địa lý/phạm vi áp dụng có thể cần phải được xác định”.


- Trong khi Singapore thì bình luận: “Các bên có thể sẽ muốn cân nhắc về sự tiện ích của việc thêm một phần về định nghĩa các thuật ngữ sẽ được sử dụng trong đó”…


Qua nghiên cứu, chúng tôi có thể phân chia quan điểm về việc xác định “Phạm vi áp dụng” của COC thành 3 nhóm:


Thứ nhất: Tránh không đề cập đến hoặc đề cập một cách chung chung theo cách mà văn bản này đã thể hiện và đã được Malaysia, Singapore… nêu ý kiến bổ sung như đã trình bày ở trên.


Thứ 2: Yêu cầu xác định phạm vi này nằm ngoài ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS 1982.


Thứ 3: Phạm vi điều chỉnh của COC phải được xác định cụ thể bao gồm các thực thể địa lý có tranh chấp và vùng chồng lấn được hình thành bởi yêu sách theo đúng quy định của UNCLOS 1982.


Về nhóm ý kiến thứ nhất: Chúng tôi cho rằng, nếu theo loại ý kiến này, người ta có thể cho rằng phải chăng phạm vi áp dụng của COC là toàn bộ Biển Đông?


Nếu như vậy, thì có thể được hiểu rằng yêu sách ranh giới biển trong Biển Đông của Trung Quốc theo đường “lưỡi bò” sẽ được COC mặc nhiên thừa nhận.


Và trong trường hợp này, phải chăng COC sẽ trở thành “bác sỹ phẫu thuật” xuất sắc có khả năng “ghép nối” cái “lưỡi bò” đã bị cắt bỏ bởi Phán quyết Tòa Trọng tài 12/7/2016?


Về loại ý kiến thứ 2: chúng tôi thấy đây là ý kiến khá cụ thể, nhưng chưa đủ.


Bởi vì, như chúng tôi đã từng phân tích, trong Biển Đông không chỉ có vấn đề xác định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa ven bờ của các quốc gia ven biển và của các quốc gia quần đảo, mà còn có vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với các thực thể thuộc các quần đảo nằm giữa Biển Đông và hiệu lực trong việc xác định các vùng biển và thềm lục địa của các thực thể này.


Hơn nữa, vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với các thực thể địa lý trong Biển Đông là loại quan hệ không thuộc phạm vi và đối tượng điều chỉnh của UNCLOS 1982.


Về loại ý kiến thứ 3: về nguyên tắc, đây là ý kiến đề xuất khá cụ thể và đầy đủ. Bởi vì, đề xuất này đã bao quát toàn bộ các loại tranh chấp cần được tính đến để có được những chế định phù hợp cho một văn bản pháp luật với đúng nghĩa của nó.


Tuy nhiên, việc thống nhất được nội dung này nhằm đưa vào trong một bộ quy tắc ứng xử (COC) trong bối cảnh hiện tại có lẽ sẽ gặp nhiều trở ngại, cả về mặt nguyên tắc, lẫn quan điểm pháp lý, trong lập trường của các bên tranh chấp đã tồn tại từ lâu trong lịch sử.


Từ những nhận định nói trên, chúng tôi tin rằng các nhà đàm phán có lương tâm và trách nhiệm sẽ không chấp nhận nhóm ý kiến thứ nhất.


Vì vậy, họ sẽ kiên trì đàm phán để bổ sung thêm nội dung cho nhóm ý kiến thứ 2 và sẽ trên cơ sở ý kiến thuộc nhóm thứ 3, họ sẽ đưa ra được các phương án có ý nghĩa thực tế nhất, nhằm khai thông được những bế tắc có thể xảy ra trong đàm phán.


Để làm được điều này, thiết nghĩ cần phải tập trung phân tích, nghiên cứu thật thấu đáo tất cả những khả năng có thể diễn ra để có những giải pháp mà các bên liên quan có thể chấp nhận được, theo phương châm không gây tổn hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong phạm vi các vùng biển và thềm lục địa được xác định theo đúng các quy định của UNCLOS 1982.


Chưa đụng chạm đến quan điểm pháp lý về quyền thụ đắc lãnh thổ đối với các thực thể địa lý tồn tại trong Biển Đông do các bên tranh chấp đã công khai.


Tạm thời chấp nhận nguyên tắc giữ nguyên hiện trạng đối với các thực thể địa lý có tranh chấp và phạm vi biển xung quanh các thực thể này được xác định theo đúng các tiêu chuẩn do UNCLOS 1982 quy định…


2. Về cơ chế giải quyết tranh chấp


Đây cũng là một nội dung thể hiện trong văn bản còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau và sẽ tiếp tục gây tranh cãi trong đàm phán sắp tới.


Mặc dù, phần lớn văn bản này được dành cho các vấn đề phòng ngừa, quản lý, giải quyết các tranh chấp Biển Đông giữa các bên, nhưng không có bất kỳ tham chiếu cụ thể nào đối với các cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc mà trong Phụ lục VII, UNCLOS 1982, đã đề cập một cách cụ thể, ngoại trừ tranh chấp quyền thụ đắc lãnh thổ và phân định ranh giới biển.


Để bổ sung cho khiếm khuyết này, Indonesia đã đề xuất: Các bên nhất trí, khi thích hợp sẽ sử dụng Hội đồng Cấp cao của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) với sự đồng ý của các bên liên quan, để giải quyết mọi tranh chấp liên quan đến các sự cố có thể xảy ra trên Biển Đông.


Các bên đồng ý rằng bất kỳ sự cố nào chưa được giải quyết sẽ được chuyển tới một cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp của quốc tế, với sự đồng ý của các bên liên quan.


Việt Nam đề xuất rằng, các bên giải quyết tranh chấp “thông qua đàm phán hữu nghị, điều tra, trung gian, hòa giải và những biện pháp khác theo thỏa thuận của các quốc gia ký kết (Contracting States)”.


Nếu những biện pháp đó không thành công, Việt Nam đề nghị các bên tranh chấp “sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo những điều khoản tương ứng của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á”.


Việt Nam kết luận rằng không có bất kỳ điều gì trong COC “sẽ ngăn cản” việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình phù hợp theo Điều 33 (1) của Hiến chương Liên Hợp Quốc.


Điều 33 bao gồm “các biện pháp giải quyết tranh chấp khác” như Trọng tài, Tòa án quốc tế, sử dụng các cơ quan hay thỏa thuận khu vực, hoặc những biện pháp hòa bình khác được quyết định bởi các bên liên quan.


Ngoài ra, văn bản có hai lựa chọn để giám sát việc thực hiện. Lựa chọn thứ nhất, được ủng hộ bởi Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Malaysia, và Singapore, đặt trách nhiệm vào Hội nghị Quan chức cấp cao ASEAN - Trung Quốc.


Lựa chọn thứ hai, do Việt Nam đề xuất, kêu gọi việc thiết lập một Ủy ban lãnh đạo bởi các Ngoại trưởng hoặc đại diện của các quốc gia.


3. Về nghĩa vụ hợp tác


Về cơ bản, văn bản đã sử dụng các quy định của UNCLOS 1982 rằng, các quốc gia ký kết có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường biển trong một biển nửa kín và trong khi đang chờ giải quyết tranh chấp, các quốc gia ký kết cần tham gia vào những thỏa thuận có tính thực tiễn.


Để cụ thể hóa, các bên tham gia đã đề xuất ý kiến bổ sung, chẳng hạn: văn bản chứa đựng một đề xuất của Việt Nam, đề nghị thay thế toàn bộ những cam kết cơ bản với 27 điểm quy định những điều các quốc gia phải làm và không được làm.


Trong khi đó, Philippines, Indonesia và Singapore, Trung Quốc và Campuchia, đã lần lượt đề xuất bốn lựa chọn riêng biệt về nghĩa vụ hợp tác.


Ngoại trừ lựa chọn Trung Quốc đề xuất, tất cả các lựa chọn khác về cơ bản đều bao gồm năm lĩnh vực hợp tác trong Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).


Chúng bao gồm: bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an toàn giao thông và liên lạc ở biển, chống tội phạm xuyên quốc gia.


Đề xuất của Indonesia bổ sung về đánh bắt trái phép trong Biển Đông. Campuchia thì đề xuất kết nối biển.


Đề xuất của Trung Quốc thì có phần chồng chéo với những lựa chọn khác, nhưng đáng chú ý ở trên sáu lĩnh vực hợp tác – bảo tồn nguồn cá, hợp tác an ninh và luật biển, đi lại và tìm kiếm cứu nạn trên biển, nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường, kinh tế biển bao gồm hợp tác trong lĩnh vực thủy sản và dầu khí và văn hóa biển.

image013

COC là Bộ Luật Biển khu vực?


Điều đáng chú ý là Trung Quốc đề xuất sự hợp tác chỉ được thực hiện bởi các quốc gia ven biển “và không được hợp tác với các công ty từ những nước ngoài khu vực”.


Ngược lại, Malaysia lại đề nghị rằng không nội dung nào của COC “sẽ ảnh hưởng đến quyền hoặc khả năng của các bên tiến hành các hoạt động cùng với nước ngoài hoặc các tổ chức tư nhân do họ tự lựa chọn”.


Mời quý độc giả quan tâm đón đọc phần 2 của bài viết vào ngày mai, 9/8/2018


Tiến sỹ Trần Công Trục


Mục tiêu và ý nghĩa thực sự của COC với Biển Đông


TIẾN SỸ TRẦN CÔNG TRỤC


09/08/2018


(GDVN) - Mục tiêu ưu tiên khi xây dựng COC, trước mắt là tạo ra môi trường hòa bình, ổn định để các bên tranh chấp có điều kiện thuận lợi cùng nhau giải quyết...


Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam xin trân trọng giới thiệu phần còn lại của bài phân tích các diễn biến mới nhất về tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông của Tiến sĩ Trần Công Trục.


Bài viết này tiếp theo phần 1 "Đừng biến COC thành bác sỹ phẫu thuật có khả năng ghép nối lưỡi bò"


4. Về nội dung “Tự kiềm chế/Thúc đẩy lòng tin và sự tín nhiệm”


Có 2 sự lựa chọn: Lựa chọn đầu tiên được liệt kê bởi Indonesia gồm bốn biện pháp: đối thoại giữa các quan chức quốc phòng và quân đội, đối xử nhân đạo với người gặp nạn, tự nguyện thông báo về các cuộc tập trận chung hay kết hợp sắp diễn ra, và thường xuyên trao đổi thông tin liên quan.


Lựa chọn thứ hai: có 5 điểm do Trung Quốc đề xuất, một đề xuất do Philippines và điểm cuối cùng được đề xuất chung bởi Trung Quốc và Philippines.


Điểm đầu tiên Trung Quốc đề xuất: “các hoạt động quân sự trong khu vực là để dẫn tới tăng cường lòng tin lẫn nhau”.


Đề xuất thứ hai Trung Quốc kêu gọi: giao lưu giữa các lực lượng quốc phòng và quân đội bao gồm “tàu quân sự ghé thăm cảng của nhau và tuần tra chung một cách thường xuyên”.


Đề xuất thứ 3 kêu gọi: “thường xuyên tập trận chung giữa Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN”.


Điểm thứ tư Trung Quốc đề xuất: “các bên sẽ thiết lập một cơ chế thông báo các hoạt động quân sự, và thông báo cho nhau các hoạt động quân sự chính nếu thấy cần thiết.


Các bên không được tập trận chung với các nước ngoài khu vực, trừ khi các bên liên quan đã được thông báo trước và không phản đối”


Điểm đề xuất thứ năm của Trung Quốc lưu ý rằng: các tàu và máy bay quân sự được hưởng quyền miễn trừ quốc gia và được “miễn trừ tài phán bởi bất cứ quốc gia nào khác ngoài quốc gia mà tàu đăng ký”.


Hơn nữa, tàu và máy bay quân sự được hưởng quyền tự vệ, “nhưng phải có sự lưu tâm thích đáng đến các tàu và máy bay quân sự của bên còn lại…”.


Việt Nam đã đưa ra một bảng đề xuất riêng của mình thay thế toàn bộ những điểm nêu tại nội dung này.


Việt Nam đề nghị rằng, các quốc gia ký kết tôn trọng “các vùng biển được quy định và thiết lập phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.


Việt Nam cũng đề xuất rằng, "các quốc gia ký kết cần cung cấp thông báo trước 60 ngày về cuộc tập trận chung/kết hợp sắp diễn ra” ở Biển Đông.


Việt Nam cũng đề xuất một hướng dẫn cụ thể về những gì quốc gia ký kết không nên làm, bao gồm xây dựng trên bất kỳ đảo nhân tạo nào, quân sự hóa các thực thể, phong tỏa tàu chở lương thực hay luân chuyển nhân sự, tuyên bố Khu vực Nhận diện Phòng không và tiến hành các các cuộc mô phỏng tấn công tàu và máy bay của các quốc gia khác.


5. Về vai trò của bên thứ ba


Các bên thứ ba là những quốc gia không tham gia ký COC. Không có quy định nào trong văn bản về việc các bên thứ ba có trách nhiệm hay các quyền được tham gia, với tư cách là chủ thể hay đối tượng áp dụng của COC, nếu có hoạt động nhằm thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong Biển Đông.


Vì vậy, Brunei đề xuất rằng, “sau khi COC có hiệu lực, các bên có thể đề xuất lên Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ra Nghị quyết hai năm một lần để đảm bảo tất cả các quốc gia khác tôn trọng những nguyên tắc có trong COC…”.


Trong khi đó, đề xuất của Trung Quốc chủ yếu nhằm ràng buộc các quốc gia thành viên ASEAN ký kết COC phải hạn chế, nếu như không phải là loại trừ hoàn toàn sự tham gia của các bên thứ ba.


Có thể nói, đây là chủ trương xuyên suốt “phi quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông mà Trung Quốc đã và đang theo đuổi.


6. Về tính chất của COC


Văn bản chưa có quy định nào cho thấy COC là một Hiệp ước theo luật quốc tế. Vì vậy, Việt Nam đề xuất rằng các quốc gia thành viên “đồng ý ràng buộc bởi Bộ Quy tắc Ứng xử hiện hành…”.


COC “phải được phê chuẩn theo thủ tục nội bộ tương ứng của các quốc gia ký kết” và Việt Nam và Brunei đều đề nghị rằng khi ký kết COC các quốc gia thành viên không có quyền bảo lưu bất kỳ một quy định nào.


Văn bản phê chuẩn sẽ được gửi cho Tổng thư ký ASEAN – người “sẽ đăng ký” COC theo đúng điều 102 Hiến chương Liên Hợp quốc…


Mặc dù, còn có những vấn đề chưa thật chi tiết, rõ ràng về tính chất pháp lý của COC, văn bản này vẫn đang là một “tài liệu sống”, nghĩa là các bên vẫn có quyền thêm hoặc bớt trong văn bản dự thảo, sao cho COC khi được ký kết sẽ là một văn bản có tính ràng buộc về mặt pháp lý.


Tuy nhiên, với những nội dung cụ thể đã được thể hiện trong Văn bản duy nhất để đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử COC, kể cả những ý kiến đề xuất của các bên tham gia, có thể thấy rằng đã có những chuyển biến tích cực bước đầu theo chiều hướng COC là một văn bản có tính ràng buộc về pháp lý đối với các bên tham gia ký kết, chứ không còn chỉ là một văn kiện chính trị theo quan điểm của Trung Quốc khi thông qua “Khung COC”.


Trong nội dung này, chúng tôi cũng xin lưu ý rằng, văn bản này đã lặp lại những từ ngữ trong “Khung COC”: đây “không phải là một văn kiện để giải quyết tranh chấp lãnh thổ hoặc phân định biển” khiến nhiều người hoài nghi về hiệu lực của COC.


Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cụm từ này được nêu lại trong văn bản là có ý nghĩa thực tế, phù hợp với bối cảnh Biển Đông đang tồn tại những loại tranh chấp khác nhau, rất phức tạp và chồng chéo.


Không thể giải quyết chỉ trong một sớm một chiều và chỉ bằng một bộ “Quy tắc Ứng xử” (Code of Conduct) mà các bên tham gia mong muốn xây dựng để tạo ra hành lang pháp lý để xử lý các quan hệ rất phức tạp trong Biển Đông, có nguy cơ khiến cho tình hình Biển Đông có khả năng rơi vào tình trạng chiến tranh, xung đột, bất ổn…


Hơn nữa, mục tiêu ưu tiên khi xây dựng COC, trước mắt là tạo ra môi trường hòa bình, ổn định để các bên tranh chấp có điều kiện thuận lợi cùng nhau giải quyết các loại tranh chấp một cách cơ bản, lâu dài thông qua các biện pháp hòa bình. 


Phải chăng, chính vì thế mà ở phần 2, những nguyên tắc chung, Malaysia đã nhấn mạnh thêm:


“Các bên tiếp tục công nhận rằng COC không giải quyết hoặc không ảnh hưởng đến lập trường của các bên về các vấn đề pháp lý liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về ranh giới biển hoặc các quyền lợi biển mà các bên được hưởng theo luật quốc tế về biển và được ghi nhận/phản ánh trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982?”.


Để có được một COC đáp ứng mong muốn, kỳ vọng của cộng đồng khu vực và quốc tế, các quốc gia tham gia đàm phán sẽ còn vượt qua nhiều khó khăn, trắc trở.


Bởi vì, đây là một công trình vẫn còn đang trong tiến trình mà dự kiến sẽ trải qua ít nhất ba lần thảo luận trước khi tiến tới một Bộ Quy tắc cuối cùng về Ứng xử ở Biển Đông. Tuy vậy, với việc thông qua văn bản này cũng là một thắng lợi đáng ghi nhận.


Chúng tôi tin tưởng các quan chức được các quốc gia thành viên đề cử tham gia đàm phán sẽ hoàn thành trọng trách của mình, với tư cách không chỉ là những chính khách, mà phải còn là những chuyên gia pháp lý, khoa học, kỹ thuật có tâm và có trình độ chuyên môn cao.


TIẾN SỸ TRẦN CÔNG TRỤC


++++++++++++++++++++++++++++++++


COC: Manila 06/8/2017, Bản khung Bộ Quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC)


Đánh Giá Bản Khung của ASEAN và TQ về Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông


27 Tháng Giêng 2019 10:20 CH(Xem: 7648)

VĂN HÓA ONLINE - DIỄN ĐÀN CHÍNH TRỊ - THỨ HAI 28 JAN 2019

image014

COC: Đánh Giá Bản Khung của ASEAN và TQ về Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông


Tác giả: Ian Storey


Biên dịch: Nguyễn Phúc Thiện


Hiệu đính: Huệ Việt


image015Đá Chữ Thập ngày 16/6/2017 với các hầm chứa tên lửa và nhiều trang thiết bị quân sự mới. Nguồn: CSIS/AMTI và Digital Globe.


Tóm tắt


Tại Manila vào ngày 6 tháng 8 năm 2017, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và Trung Quốc đã thông qua Bản khung Bộ Quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC).


  • Mặc dù bản khung này là một bước tiến trong quá trình quản lý xung đột trên Biển Đông, nó thiếu tính chi tiết và chứa đựng nhiều các nguyên tắc và quy định tương tự trong Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc năm 2002 về Cách Ứng Xử của Các Bên trên Biển Đông (DOC), một bản tuyên bố vẫn chưa được thi hành thậm chí một phần.
  • Văn bản này bao gồm một dẫn chiếu mới về việc ngăn ngừa và quản lý sự cố, cũng như cam kết dường như mạnh mẽ hơn đối với an ninh hàng hải và tự do hàng hải. Tuy nhiên, văn bản không có cụm từ “ràng buộc pháp lý”, cũng như phạm vi địa lý của thỏa thuận và cơ chế thi hành và trọng tài.
  • Bản khung này sẽ tạo cơ sở cho các cuộc đàm phán tiếp theo về COC. Những cuộc thảo luận này có thể kéo dài và gây phiền toái cho các thành viên ASEAN, những người mong muốn thấy được tính ràng buộc, toàn diện và có hiệu lực pháp lý của COC.


Giới thiệu


Vào ngày 6 tháng 8 năm 2017 tại Manila, các Bộ trưởng Ngoại giao của Trung Quốc và ASEAN đã thông qua Bản khung Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông (COC). Bản khung này đã được thông qua trước đó bởi Hội nghị các Quan chức cao cấp ASEAN-Trung Quốc về Thực hiện Tuyên bố Ứng xử của Các Bên trên Biển Đông (SOM-DOC) tại Quế Dương, Trung Quốc vào ngày 19 tháng 5 năm 2017.


Bản khung này đã được chào đón rộng rãi bởi các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc. Trong thông cáo chung của họ – vốn bị hoãn gần 24 giờ do khác biệt quan điểm giữa một số thành viên ASEAN về cách miêu tả đặc trưng của tranh chấp – các bộ trưởng ngoại giao ASEAN nói rằng việc thông qua bản khung COC có “tính khích lệ” vì nó sẽ “thúc đẩy công tác đi tới ký kết một bộ COC hiệu quả trong một khung thời gian mà hai bên cùng chấp nhận”.


Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh cho biết ông hy vọng khung COC này sẽ “mở đường cho các cuộc đàm phán có ý nghĩa và thực chất nhằm tiến tới ký kết COC” nhưng ông cũng nói thêm rằng để cho bộ quy tắc này có hiệu quả trong phòng ngừa và quản lý các sự cố ở Biển Đông, nó sẽ phải bị ràng buộc về mặt pháp lý – một cụm từ không xuất hiện trong khung COC.


Bộ trưởng Ngoại giao Singapore Vivian Balakrishnan gọi bản khung này là “một tài liệu quan trọng vì nó diễn tả, theo một nghĩa nào đó, sự đồng thuận và quan trọng hơn là sự cam kết thay mặt cho 10 quốc gia Asean và Trung Quốc nhằm đạt được tiến bộ về vấn đề quá hạn này”.


Theo Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị, bản khung COC “mang lại sự ổn định cho vấn đề, thể hiện một động lực tích cực. Điều này cho thấy mong muốn chung của chúng ta là bảo vệ hòa bình và ổn định ở Biển Đông.


Tuy nhiên, đáng ngại hơn, ông Vương cũng nói rằng các cuộc đàm phán thực chất về nội dung của bộ quy tắc chỉ có thể bắt đầu nếu “không có những ngăn trở lớn từ các bên thứ ba”, một ám chỉ dành cho Hoa Kỳ – quốc gia mà Trung Quốc đã liên tục cáo buộc là “can thiệp” vào tranh chấp.


Quá trình đàm phán COC đã bị kéo dài và rất gian nan. Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc năm 2002 về Cách Ứng xử của Các Bên ở Biển Đông (DOC) đã kêu gọi các bên thông qua một COC. Sự khác biệt giữa DOC và COC dự kiến chưa bao giờ được làm rõ, mặc dù một số thành viên ASEAN, đặc biệt là các nước yêu sách ở Đông Nam Á, đã vạch ra một thỏa thuận ràng buộc về mặt pháp lý mà sẽ toàn diện hơn và hiệu quả hơn DOC – vốn chỉ là một tuyên bố chính trị không ràng buộc.


Phải mãi đến năm 2013, Trung Quốc mới đồng ý bắt đầu đàm phán với ASEAN về COC. Do căng thẳng gia tăng ở Biển Đông, khi các cuộc thảo luận bắt đầu vào đầu năm 2014, một số thành viên ASEAN liên tục kêu gọi tiến hành đàm phán. Tuy nhiên, chỉ sau khi Tòa án Trọng tài ở The Hague đưa ra phán quyết lịch sử vào ngày 12 tháng 7 năm 2016 thì Trung Quốc mới đồng ý đẩy nhanh các cuộc đàm phán. Có hai lý do khiến Trung Quốc đồng ý làm như vậy.


Thứ nhất, Bắc Kinh muốn làm chệch hướng những chỉ trích về việc họ bác bỏ phán quyết của Tòa trọng tài và thay vào đó hình ảnh của họ như một đối tác hợp tác.


Thứ hai, phản ứng của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đối với phán quyết. Mặc dù phán quyết rất có lợi cho Philippines nhưng Duterte đã quyết định đặt nó qua một bên và ưu tiên tăng cường quan hệ kinh tế với Trung Quốc trong khi giải quyết các chồng lấn yêu sách về lãnh hải và chủ quyền của hai nước trên cơ sở song phương. Cách tiếp cận của Duterte đã làm giảm đáng kể các căng thẳng Trung Quốc – Philippine ở Biển Đông, đặc biệt là sau tháng 10/2016 khi Bắc Kinh dỡ bỏ phong tỏa từ tháng 5 năm 2012 ngăn cản ngư dân Philippines đánh bắt tại ở bãi cạn Scarborough. Việc nới lỏng căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc cũng có thể góp phần tạo ra môi trường tốt hơn trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc.


Trong nửa đầu năm 2017, các quan chức ASEAN và Trung Quốc đã gặp nhau ba lần để thảo luận về COC. Tại lần họp thứ 19 của Nhóm Công tác chung ASEAN – Trung Quốc về Thực hiện Tuyên bố về Cách Ứng xử của Các Bên trên Biển Đông (JWG-DOC) tại Bali, Indonesia vào ngày 27 tháng 2, hai bên đã nhất trí về đề cương cơ bản của dự thảo khung. Một phiên bản dài hơn, có độ dài một trang, sau đó đã được thảo luận tại cuộc họp nhóm lần thứ 20 của JWG-DOC tại Siem Reap, Campuchia vào ngày 30 tháng 3 năm 2017. Phiên bản này đã được sửa đổi một chút trong các cuộc họp SOM-DOC ở Quế Dương vào tháng 5. Bài viết này tập trung vào các nội dung của bản khung COC và giải thích ý nghĩa đằng sau một số ngôn ngữ được sử dụng.


Khung COC này dài trên một trang và được chia thành ba phần: 1. Điều khoản tiền đề; 2. Các điều khoản chung; và 3. Các điều khoản cuối cùng.


Phần 1: Điều khoản tiền đề


“Điều khoản tiền đề” chỉ liệt kê ba mục ngắn gọn: a. Các căn cứ của COC; b. Liên kết và tương tác giữa DOC và COC; và c. Tầm quan trọng và khát vọng.


Mặc dù phần b không giải thích chi tiết mối liên hệ giữa DOC và COC, theo những người thân cận trong các cuộc đàm phán, Trung Quốc xem COC là một phần của quá trình thực hiện DOC, và do đó, DOC sẽ ảnh hưởng lớn đến nội dung của COC. Điều này cho thấy COC cuối cùng có thể không khác nhiều so với DOC. Như các quan chức Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh, mọi người đừng nên quá kỳ vọng rằng COC sẽ hoàn toàn khác với DOC.


Phần 2: Các điều khoản chung


“Các quy định chung” bao gồm ba phần: a. Mục tiêu; b. Nguyên tắc; và c. Những cam kết cơ bản.


Mục tiêu đầu tiên là “Thiết lập khuôn khổ dựa trên những nguyên tắc chứa đựng những quy phạm để hướng dẫn các bên tiến hành và thúc đẩy hợp tác hàng hải ở Biển Đông”. Quan trọng hơn là cụm từ “khuôn khổ dựa trên các nguyên tắc” đã được sử dụng thay vì cụm từ “ràng buộc pháp lý” mà một số quốc gia ASEAN đã mong đợi nhiều năm. Cụm từ này đã bị bỏ qua do Trung Quốc đã phản đối một bộ quy tắc ràng buộc pháp lý sẽ hạn chế họ tự do hành động trên Biển Đông và bởi vì bản thân các nước ASEAN cũng không có sự đồng thuận về vấn đề này. Liệu nó có được đưa vào các phiên bản sau của COC hay không vẫn còn phải đợi xem, nhưng gần như chắc chắn Trung Quốc sẽ cố gắng để đảm bảo điều này không xảy ra. Do đó, COC cuối cùng có thể là tự nguyện và không ràng buộc, giống như DOC và Quy tắc ứng xử khi đụng độ bất ngờ trên biển năm 2014 (CUES).


Mục tiêu thứ hai là “Tăng cường tin cậy lẫn nhau, hợp tác và tín nhiệm, ngăn chặn sự cố, quản lý sự cố nếu xảy ra và tạo ra môi trường thuận lợi cho việc giải quyết hoà bình các tranh chấp”. Trong DOC, các bên cũng đồng ý xây dựng “lòng tin và sự tín nhiệm” và “tăng cường các điều kiện thuận lợi cho giải pháp hòa bình và hữu nghị giải quyết những khác biệt và tranh chấp giữa các nước có liên quan”. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên họ đồng ý ngăn chặn và quản lý các sự cố trên biển. Sự đề cập đến phòng ngừa và quản lý sự cố đã nêu bật rằng tần suất các hoạt động gây căng thẳng tăng lên đáng kể kể từ khi DOC được ký vào năm 2002 – đặc biệt là từ sau năm 2007-08 – và nhu cầu cấp thiết để quản lý tranh chấp tốt hơn và ngăn ngừa các sự cố nguy hiểm tiềm ẩn có thể xảy ra và leo thang.


Mục tiêu thứ ba là “Bảo đảm an ninh hàng hải và an toàn, tự do hàng hải và hàng không”. Các bên của DOC cũng “tái khẳng định sự tôn trọng và cam kết của họ đối với tự do hàng hải trong và trên không trên biển Đông”, nhưng cụm từ “đảm bảo” có vẻ mạnh hơn “tôn trọng và cam kết” và nhấn mạnh mối quan tâm của một số nước ASEAN rằng các tranh chấp có thể gây nguy hại tới tự do hàng hải, đặc biệt nếu Trung Quốc tuyên bố một Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên Biển Đông như đã làm trên các phần của Biển Hoa Đông vào tháng 11 năm 2013. Lập trường của Trung Quốc là tranh chấp không đe dọa tự do hàng hải.


Phần “Nguyên tắc” được chia thành bốn phần.


Nguyên tắc đầu tiên là COC “Không phải là một công cụ để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ hoặc phân định biển”. Vấn đề này không gây tranh cãi như bề ngoài vì có vẻ như là các quốc gia thành viên ASEAN chưa bao giờ giao cho tổ chức này nhiệm vụ giải quyết tranh chấp; mà chỉ có thể được thực hiện bởi các bên yêu sách, thông qua trọng tài hoặc các cuộc đàm phán chính trị, song phương hoặc đa phương. Câu này được bao gồm trong bản khung để loại bỏ ý kiến cho rằng COC sẽ giúp “giải quyết” các tranh chấp về chủ quyền và thẩm quyền giữa các bên yêu sách như báo cáo truyền thông một vài lần nhầm lẫn.


Nguyên tắc thứ hai là sự cam kết đối với “các mục đích và nguyên tắc” của Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác năm năm 1982, Năm Nguyên tắc chung sống hòa bình và “các nguyên tắc phổ quát của luật quốc tế”. Ngôn ngữ này cũng xuất hiện trong DOC và đã hình thành nền tảng quan hệ ASEAN – Trung Quốc kể từ khi các mối quan hệ đối thoại được thiết lập vào năm 1991.


Nguyên tắc thứ ba là “Cam kết thực hiện đầy đủ và hiệu quả của DOC”, mà trước đây ASEAN và Trung Quốc đã đồng ý. Làm thế nào để DOC sẽ được thực hiện đầy đủ và có hiệu quả thì lại không được nói đến. Các quan chức ASEAN và Trung Quốc đã thảo luận cách thức thực hiện điều này từ năm 2005 với rất ít tiến bộ. Như đã nói ở trên, Trung Quốc dường như coi COC là một phần của quá trình triển khai DOC.


Nguyên tắc thứ tư là “Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau theo luật pháp quốc tế và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác”. Đây là điều khoản mới, mặc dù nó nhắc lại các nguyên tắc một và ba của Năm nguyên tắc Chung Sống Hoà Bình. Sự lặp lại được sử dụng để củng cố tầm quan trọng của hai nguyên tắc này khi tiến hành các quan hệ ASEAN – Trung Quốc, đặc biệt là trong bối cảnh bất đối xứng về quyền lực giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á kể từ khi DOC được ký vào năm 2002.


Mục “Những cam kết cơ bản” bao gồm sáu phần: i. Nhiệm vụ hợp tác; ii. Thúc đẩy hợp tác hàng hải thực tế; iii. Tự kiềm chế/ Khuyến khích niềm tin và tín nhiệm; iv. Ngăn ngừa sự cố, phần này gồm gồm hai điểm bullet – thứ nhất là “Các biện pháp xây dựng lòng tin” và thứ hai là “Đường dây nóng”; v. Quản lý các sự cố, theo sau là điểm bullet “Đường dây nóng” được lặp lại; và vi. “Các cam kết khác phù hợp với luật pháp quốc tế, để hoàn thành các mục tiêu và nguyên tắc của COC.”


“Nghĩa vụ hợp tác” là một nghĩa vụ trong UNCLOS, mà tất cả các bên đã phê chuẩn trừ Campuchia. Mặc dù không được nêu trong văn bản, nhưng phần (ii) được cho là bao gồm các hoạt động như tìm kiếm và cứu nạn, nghiên cứu khoa học hàng hải, bảo vệ môi trường và chống lại các tội phạm xuyên quốc gia trên biển mà Trung Quốc đã quan tâm. Các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực thiết thực này cũng được đưa vào DOC.


Cụm từ “tự kiềm chế” không được định nghĩa và đây là một trong những thiếu sót chính của DOC. Bởi vì nó đã không được xác định, các bên khác nhau đã giải thích nó theo hướng phù hợp với họ. Từ năm 2002, các bên yêu sách đã cáo buộc nhau vi phạm điều khoản tự kiềm chế trong khi họ tự thực hiện các hoạt động rõ ràng vi phạm điều khoản này – từ việc sửa chữa một đường băng hiện tại cho tới, trong trường hợp của Trung Quốc, biến đổi bảy thực thể địa lý nhỏ xíu thành các đảo nhân tạo lớn. Nếu để thêm giá trị cho DOC, “tự kiềm chế” sẽ cần phải được định nghĩa.


Liên kết với điều khoản “tự kiềm chế” là “Ngăn ngừa sự cố”, đây là một điều khoản mới và đáng được hoan nghênh vì nó cho thấy rằng trong tương lai các quan chức ASEAN và Trung Quốc có thể đồng ý về một danh sách các hoạt động mà lực lượng vũ trang của họ, và có thể là lực lượng tuần duyên của họ, bị cấm thực hiện, tương tự như các thoả thuận đụng độ trên biển US-USSR năm 1972, trong đó bao gồm một danh sách dài “những việc nên và không nên làm”. DOC cũng kêu gọi các bên thiết lập các biện pháp xây dựng lòng tin và liệt kê năm lĩnh vực tiềm năng cho các biện pháp này. Vào năm 2016, ASEAN và Trung Quốc đã đồng ý áp dụng CUES cho Biển Đông và thông qua hướng dẫn thiết lập các đường dây nóng ngoại giao để sử dụng trong các tình huống khẩn cấp và khủng hoảng hàng hải, cả hai đều có thể được đưa vào bản COC cuối cùng.


Phần 3: Điều khoản cuối cùng


Phần thứ ba và là phần cuối của bản khung này là các Điều khoản cuối cùng. Bao gồm năm ý chính: a. “Khuyến khích các nước tôn trọng các nguyên tắc COC”; b. “Các cơ chế cần thiết cho việc giám sát thực hiện”; c. “Rà soát COC”; d. “Tính nguyên bản”; và e. “Có hiệu lực.”


Bề ngoài tưởng như vô hại, nhưng dường như Bắc Kinh lại cố tình đẩy vấn đề Biển Đông trở thành vấn đề chỉ giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á – trong đó ASEAN chỉ có một vai trò hạn chế trong quản lý xung đột – còn các bên liên quan khác, đặc biệt là Hoa Kỳ và Nhật Bản, không nên “can thiệp” vào tranh chấp. Điều này phù hợp với vị thế lâu dài của Trung Quốc mà Bộ trưởng Ngoại giao Vương tại Manila đã nhắc tới.


Các ý b và c chỉ ra rằng thỏa thuận cuối cùng sẽ do SOM-DOC giám sát và được hỗ trợ từ JWG-DOC, sau đó sẽ báo cáo với các cuộc họp giữa các Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc và ASEAN, những người có thể yêu cầu rà soát lại COC nếu họ cho là cần thiết.


Các ý c và d vô cùng quan trọng vì chúng cho phép mở ra viễn cảnh rằng COC có thể được ràng buộc về mặt pháp lý. COC khi đó sẽ phải được phê chuẩn theo các thủ tục nội địa của Trung Quốc và mười thành viên ASEAN. Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó, Trung Quốc đang chống lại mạnh mẽ một bộ quy tắc mang tính ràng buộc về mặt pháp lý.


Những vấn đề còn thiếu sót


Ngoài các quy định chi tiết và cụm từ “ràng buộc pháp lý”, một số vấn đề quan trọng vẫn chưa được nêu trong thỏa thuận.


Thứ nhất, bản khung này không đề cập đến phạm vi địa lý mà COC sẽ áp dụng, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang tranh chấp hay chỉ đối với một số khu vực nhất định. Trong các cuộc đàm phán về DOC, Việt Nam đã lập luận rằng tên của hai quần đảo cần phải được đưa vào, nhưng khi không thể đạt được sự đồng thuận, các tên gọi cụ thể đã bị loại bỏ. Miễn là COC áp dụng cho toàn bộ Biển Đông, điều này có thể không tạo ra vấn đề.


Thứ hai, trong khi văn bản đề cập đến “cơ chế giám sát việc thực hiện”, thì các biện pháp cưỡng chế và các cơ chế trọng tài trong trường hợp một bên cáo buộc bên kia vi phạm điều khoản lại không được nhắc tới. Nói chung, ASEAN thường tránh các điều khoản về thi hành trong các thỏa thuận của mình. Tuy nhiên, việc thiếu các biện pháp cưỡng chế và các cơ chế trọng tài sẽ làm suy yếu hiệu quả của bản COC cuối cùng.


Triển vọng


Bất chấp những thiếu sót của nó, việc ASEAN và Trung Quốc đã thông qua khung này là một bước tiến trong quá trình quản lý xung đột kéo dài hai thập kỷ đối với Biển Đông. Trong tương lai, khuôn khổ này sẽ tạo thành cơ sở đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về COC. Tuy nhiên, nếu quá khứ là lời giới thiệu, quá trình này có thể kéo dài và tạo ra sự khó chịu, đặc biệt đối với các nước Đông Nam Á, những người muốn có COC có tính ràng buộc pháp luật, toàn diện và hiệu quả càng sớm càng tốt.


Ian Storey là Viện sĩ cấp cao và Biên tập viên của Contemporary Southeast Asia (Đông Nam Á đương đại) tại ISEAS – Viện Yusof Ishak.


Nguyễn Phúc Thiện có bằng Cử nhân Luật quốc tế và là cộng tác viên Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.


Nguồn bản gốc tiếng Anh: https://www.iseas.edu.sg/images/pdf/ISEAS_Perspective_2017_62.pdf


ISEAS ngày 8 tháng 8 năm 2017


Ván bài lật ngửa: COC sẽ phá sản? The Hague 2016 đảo lộn COC và UNCLOS 1982? Trung lập hóa Đông Dương?